Câu hỏi
Hỏi đáp sức khỏe
Liệu em có bị ung thư dương vật không?
Thưa bác sĩ, dương vật của em có nổi một cục nhỏ ở ngay bao quy đầu. Bác sĩ cho em hỏi liệu em có bị ung thư dương vật không ạ?
Lý Thanh Hậu - Hà Nội
Trả lời
Hỏi đáp sức khỏe
BS Lê Anh Tuấn - Bác sỹ khoa điều trị

Thân chào bạn,

Thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi không đủ để chúng tôi chẩn đoán bạn có bị ung thư dương vật hay không?

Chúng tôi xin tư vấn thêm cho bạn hiể hơn về bệnh Ung thư dương vật:

-Ung thư dương vật thường gặp ở nam giới tuổi trên 40, có hẹp bao quy đầu hoặc xảy ra ở những người có bệnh lây truyền qua đường tình dục.

-Biểu hiện sớm của bệnh thường là thay đổi màu sắc da dương vật, đau bất thường, ra máu khi giao hợp hoặc nổi cục bất thường.

-Chẩn đoán bệnh được thực hiện bằng thăm khám lâm sàng, xét nghiệm và sinh thiết giải phẫu bệnh.

-Tiên lượng của điều trị ung thư dương vật phụ thuộc nhiều vào việc chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Vì vậy, chúng tôi khuyên bạn hãy đến bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi để khám bệnh bạn nhé, các bác sỹ sẽ tiến hành thăm khám, cho xét nghiệm cần thiết để giúp bạn điều trị được tốt nhất.

Hân hạnh chào đón bạn.

Qua đây, chúng tôi cũng khuyên các bậc phụ huynh hãy đưa các bé trai kiểm tra bao quy đầu của các bé có bị hẹp hay không? Vì nếu có hẹp bao quy đầu thì phải xử lý ngay từ khi nhỏ (trường hợp dễ thì dùng panh để lộn bao quy đầu ra, trường hợp cần thiết thì phải cắt bao quy đầu) vì đây là một trong những yếu tố nguy cơ gây ung thư dương vật.

Thân ái!


Hỏi đáp sức khỏe Câu hỏi mới nhất
  • 1. xin tu van
    -

    Chị Hạnh thân mến.

    Qua thông tin chị cung cấp, chắc chị đã được bác sỹ chẩn đoán và điều trị theo hướng U xơ tuyến vú, hiện nay chị thấy đau nhức, không biết có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt của chị hay không? Vì dấu hiệu đau ngực trong u xơ tuyến vú thường tăng trong chu kỳ kinh nguyệt.

    Không biết từ khi chị phát hiện ra bệnh lý này, chị đã khám sàng lọc bệnh ung thư tuyến vú hay chưa như chọc hút tế bào, xét nghiệm marker ung thư (CA 15-3) ...

    Nếu chị sắp xếp được đến khám bệnh tại bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt, chúng tôi luôn sẵn lòng giúp cho chị khám, chẩn đoán xác định và đưa ra phương án điều trị phù hợp nhất.

    Chị ở Hải Dương, cũng rất thuận tiện khi đến bệnh viện chúng tôi, địa chỉ bệnh viện: 34 Đại Cồ Việt-Hai Bà Trưng -TP Hà Nội

    Chúng tôi sẽ gọi điện trực tiếp để tư vấn cho chị.

    Thân ái,

    Để chị hiểu rõ hơn về bệnh U xơ tuyến vú, chúng tôi xin cung cấp tài liệu tư vấn như sau:

    BỆNH U XƠ TUYẾN VÚ

     

    1)Nguyên nhân: Chủ yếu là do hoóc môn sinh dục tiết ra nhiều, xuất phát từ tình trạng mất cân bằng nội tiết trong chu kỳ hàng tháng của người phụ nữ.  Là u lành tính phổ biến của tuyến vú, u xơ tuyến vú thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản hoặc ở thời kỳ tiền mãn kinh.

     

     2)Nhận biết:

    -U xơ tuyến vú có hình tròn, nhẵn, giống như hòn bi trong vú. U di động được và có thể ở bất cứ nơi nào trong vú, vị trí hay gặp là gần núm vú. Kích thước của khối u giao động từ 5mm - 5cm, tùy thuộc vào thời gian phát triển.

     

    -Khi có cảm giác nóng, bỏng rát trong bầu ngực, vú sưng hoặc có cảm giác bất thường về hình dáng kèm theo những nốt sần ở ngực khi có kinh nguyệt, bạn nên đi thăm khám ngay vì đó là những dấu hiệu của u xơ tuyến vú . Các triệu chứng trên có thể hết khi kỳ kinh qua đi.

     

    3)Điều trị: 

    -U xơ tuyến vú có thể không cần loại bỏ khi không gây cảm giác khó chịu hoặc có kích thước lớn. Trong nhiều trường hợp, những khối u này có thể tự biến mất, bệnh hiếm khi phát triển thành ung thư.

     

    -Việc điều trị u xơ tuyến vú còn tùy thuộc vào tính chất, mức độ, vị trí, số lượng của khối u. Tùy vào tình hình bệnh ở thời điểm hiện tại, sẽ có những phác đồ điều trị riêng.

     

    -Các biện pháp thường được sử dụng trong điều trị u xơ tuyến vú là phẫu thuật cắt bỏ u xơ hoặc nội khoa dùng thuốc điều chỉnh nội tiết giúp điều hòa kinh nguyệt, điều hòa lượng hoóc môn trong cơ thể, cân bằng nội tiết, ngăn ngừa quá trình hình thành u trong vú, loại trừ khả năng ung thư vú.

     
    4) Phòng bệnh:

    -Để ngăn chặn khả năng hình thành u vú từ sớm, chị em nên có chế độ ăn uống sinh hoạt, nghỉ ngơi khoa học; tích cực luyện tập thể dục, thể thao; thường xuyên mát xa vú; có đời sống tình dục lành mạnh; ngủ đủ giấc và không nên thức quá khuya. 

    -Bên cạnh đó, chị em cần thường xuyên đi khám sức khỏe định kỳ (3-6 tháng/lần), siêu âm hoặc chụp hình vú để phát hiện bệnh kịp thời. 

     

    * Mỗi chị em phụ nữ nên chủ động tìm hiểu u xơ vú nhằm trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất để phòng tránh các bệnh của vú.

     

     


  • 2. Ung thư biểu mô tuyến vú
    -

    Bạn Thanh thân mến.

    Mẹ của bạn đã khám tại BV Ung Bướu HN, đã chẩn đoán Ung thư vú biểu mô tuyến, chắc đã được bác sỹ giải thích về phương pháp điều trị rồi chứ?

    Điều trị Ung thư vú là sự phối hợp điển hình giữa phương phương pháp điều trị tại chỗ (pẫu thuật, xạ trị) và chăm sóc toàn thân (hóa trị, nội tiết, miễn dịch).

    Ung thư vú có nhiều thể mô  bệnh học:

    + Ung thư biểu mô thể nội ống.

    + Ung thư biểu mô thể tiểu thùy.

    + Ung thư biểu mô thể ống xâm nhập...

     

    Chỉ dựa vào mô bệnh học, chưa thể chẩn đoán là bệnh ở giai đoạn nào bạn ạ.

    Chính vì vậy, chúng tôi khuyên bạn hãy đưa mẹ của bạn đến khám và làm đủ các xét nghiệm cần thiết, khi đó mới xác định bệnh đang ở giai đoạn nào để đưa ra phương pháp điều trị tối ưu nhất.

    Tùy vào giai đoạn bệnh mà sẽ có tiên lượng điều trị bạn ạ, nhưng khi đã chẩn đoán ung thư vú thì cần phải điều trị càng sớm càng tốt thì tiên lượng mới khả quan bạn ạ.

    Bạn và gia đình của bạn hãy thật bình tĩnh, sáng suốt để lựa chọn nên làm thế nào cho mẹ của bạn, đặc biệt phải động viên an ủi mẹ của bạn, vì khi người mắc bệnh ung thư rất dễ bị sang chấn tinh thần, làm suy sụp rất nhanh.

    Rất tiếc bạn không để lại số điện thoại để chúng tôi tư vấn và động viên trực tiếp cho bạn và gia đình bạn.

    Thân ái.

     

     


  • 3. Xin tư vấn về ra máu âm đạo khi đang điều trị K vú
    -

    Chị Kim Thanh thân mến.

    Xin cảm ơn chị mặc dù đang ở nước ngoài nhưng đã tin tưởng bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi.

    Chúng tôi xin trả lời các câu hỏi của chị như sau:

    - Trước hết, chị phải theo dõi xem chị có bị hành kinh lại hay không chị nhé (nghĩa là chu kỳ kinh nguyệt, hàng tháng sẽ bị như trước đây).

    - Chị đang có 1 khối U xơ tử cung, nếu khối u này nằm ở niêm mạc tử cung và phát triển vào trong lòng tử cung thì việc ra máu sẽ tăng lên và kéo dài.

    - Về câu hỏi của chị là có phải cắt tử cung hay không? : Liên quan đến ung thư thì không cần phải cắt tử cung chị ạ, vì tử cung của chị không bị ung thư. Còn u xơ tử cung có cần phải phẫu thuật hay không thì chị theo dõi tiếp và tư vấn bác sỹ sản khoa khi chị đi khám lại về khỗi u xơ tử cung chị nhé.

    - Còn về thuốc: Chị dùng Arimedex là đúng phác đồ chị ạ, không phải đổi lại Tamoxiphen chị nhé.

    - Chị hãy thường xuyên đi khám kiểm tra lại và tư vấn trực tiếp bác sỹ điều trị chị nhé, vì nhiều khi để có phương án điều trị tốt nhất cho bệnh nhân còn phải dựa vào 1 quá trình theo dõi, cũng như tình trạng sức khỏe hiện tại của người bệnh nữa chị ạ.

    Thân chào chị.


  • 4. Tìm hiểu về bệnh ung thư
    -

    Bạn Thanh Hà thân mến.

    Mẹ của bạn đã khám và xét nghiệm hạch nách phải tại BV Ung Bướu TPHCM và được chẩn đoán là hạch di căn, nhưng lại chưa tìm được ung thư từ bộ phận nào lan tới?

    Với thông tin đó, chúng tôi chỉ có thể tư vấn cho bạn như sau:

    -Ung thư hạch có thể do chính khối hạch đó bị ung thư (ung thư nguyên phát) hoặc do ung thư ở bộ phận lân cận di căn tới.

    -Khi bị sưng hạch ở nách thì vùng tương ứng có thể nghĩ tới là ung thư vú; hạch ở cổ: ung thư vùng đầu, mặt, cổ (ung thư vòm họng, răng, tuyến giáp…);

    Để chẩn đoán chính xác bệnh của mẹ bạn, bạn hãy trao đổi trực tiếp với bác sỹ điều trị bạn nhé.

    Tất nhiên là khi đã chẩn đoán sinh thiết hạch là hạch di căn thì đã là ung thư rồi, thậm chí là giai đoạn muộn, nếu là ung thư tuyến giáp hoặc ung thư tuyến vú thì tiên lượng tốt hơn các ung thư khác khi đã có hạch di căn.

    Chúc mẹ của bạn sớm được chẩn đoán và được điều trị sớm nhất để đạt kết quả cao nhất.

    Thân ái.

     

    Để bạn hiểu hơn về bệnh lý Hạch, chúng tôi xin tư vấn như sau:

     

    I. Các nguyên nhân lành tính

     

    Hạch (hạch bạch huyết) đóng vai trò như hàng rào bảo vệ cơ thể trước sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh. Hạch bình thường có kích thước từ vài mm, nhỏ dưới 1cm, mềm, dẹt, di động, nằm ở các vị trí như nách, cổ, ngực, bẹn… Khi bị bệnh, hạch sẽ sưng to.

     

    1. Hạch viêm (phản ứng): Nếu cơ thể bị nhiễm trùng, các hạch ngoại vi sẽ sưng, viêm và đau. Ví dụ, viêm họng, hạch ở cổ sẽ sưng đau. Hoặc tay bị nhiễm trùng, hạch nách sẽ sưng; chân nhiễm trùng hạch bẹn sưng… Nếu hạch sưng do nguyên nhân này chỉ cần dùng thuốc kháng viêm, kháng sinh để điều trị.

     

    2. Sưng hạch là cơ thể nhiễm siêu vi: Trường hợp này hay xảy ra ở trẻ dưới 12 tuổi. Trẻ đang độ tuổi phát triển, hàng rào bảo vệ cơ thể phải hoạt động tối đa để bảo vệ trẻ trước tác nhân gây bệnh. Khi trẻ nhiễm siêu vi, có thể hạch toàn thân bị phì đại, tự xẹp khi trẻ hết bệnh.

     

    3.Khi cơ thể bị nhiễm trùng mạn tính cũng sẽ làm cho hạch sưng. Chẳng hạn với bệnh nhân bị lao hạch, ở cổ sẽ xuất hiện một loạt hạch lớn hơn 1cm, các hạch này có thể dính chùm với nhau. Ở thể nhiễm trùng mạn tính như lao hạch có thể điều trị khỏi, nhưng mất khá nhiều thời gian (từ chín tháng - một năm).

     

    II. Hạch do ung thư

     

    -Hạch do ung thư khác những hạch do các nguyên nhân còn lại. Hạch này thường cứng, giai đoạn đầu di động và to lên rất nhanh, sau đó, hạch sẽ dính và không di động nữa.

     

    Tuy nhiên, để kết luận có phải hạch do ung thư hay không, bệnh nhân cần được khám và làm các xét nghiệm kỹ càng.

     

    -Ung thư hạch có thể do chính khối hạch đó bị ung thư (ung thư nguyên phát) hoặc do ung thư ở bộ phận lân cận di căn tới.

     

    -Khi bị sưng hạch ở nách thì vùng tương ứng có thể nghĩ tới là ung thư vú; hạch ở cổ: ung thư vùng đầu, mặt, cổ (ung thư vòm họng, răng, tuyến giáp…);

     

    -Hạch ở bẹn: ung thư dương vật; hạch ở ổ bụng: ung thư buồng trứng, dạ dày, đại trực tràng…

     

    -Khi hạch đã di căn, đa phần bệnh ung thư ở giai đoạn muộn. Những bệnh ung thư khi di căn hạch vẫn can thiệp tốt là ung thư tuyến giáp, ung thư vú.

     

    -Riêng đối với ung thư phổi, gan, khi đã di căn hạch là tình trạng bệnh khá nặng. Dù chưa di căn hạch, tính chất của bệnh ung thư gan, phổi cũng đã nặng và khó điều trị hơn các loại ung thư khác.

     

    Lời khuyên: Khi thấy cơ thể nổi hạch, hãy đi khám ngay để được xác định và điều trị kịp thời. Dù thế, mọi người cũng không nên quá hoang mang nếu thấy cơ thể bỗng xuất hiện hạch, bởi như đã nói ở trên, hầu hết nguyên nhân là các bệnh lành tính.  Với trẻ em dưới 12 tuổi bị nổi hạch, phụ huynh cũng đừng quá hoảng sợ, bởi phần lớn đó là phản ứng sinh lý bình thường của cơ thể.

     

     

     


  • 5. u bã đậu
    -

    Bạn Thanh Thảo thân mến.

    Bạn đã đưa con gái đến khám tại BV Nhi và được chẩn đoán là u bã đậu ở đuôi mắt trái, chúng tôi không rõ kích thước khối u là bao nhiêu và tính chất khối u như thế nào.

    Vì con gái bạn còn nhỏ (20 tháng tuổi), vì vậy trước khi chị quyết định đưa cháu đi mổ u, chúng tôi khuyên chị hãy đưa cháu đến khám tại bệnh viện chúng tôi chị nhé, vì chị ở ngay 298 Ngọc Hồi, rất tiện đến bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi (34 Đại Cồ Việt), bác sỹ se thăm khám và cho cháu làm xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán chính xác và có lời khuyên tốt nhất cho con gái của chị.

    Chúc cháu bé luôn mạnh khỏe, mau ăn chóng lớn.

    Thân chào chị.

     

    Để chị hiểu rõ hơn về bệnh u bã đậu, chúng tôi xin tư vấn cho chị về bệnh u bã đậu:

    HIỂU BIẾT VỀ BỆNH U BÃ ĐẬU

     

    1. Bản chất:

    - U  bã đậu có thể hình dung như những trứng cá bọc, bản chất là do tuyến bã ở lỗ chân lông không thoát, tích tụ mà thành.

    - U bã đậu có cấu tạo bởi lớp vỏ bọc, bên trong là chất bã mềm, màu vàng nhạt hoặc vàng đục. thường u mềm, nổi mặt da, không đau và rất di động; lấy ra là tổ chức bã trắng như đậu.

    - U bã đậu thường xuất hiện ở các vị trí cơ thể hay tiết mồ hôi hoặc dịch nhày như da vùng mặt, vai, lưng...

    -U lớn dần và không đau, nhưng dễ gây cảm giác khó chịu tại chỗ hoặc viêm tấy đỏ đau khi có nhiễm trùng.

    - U bã đậu còn có tên gọi là bướu nang bã. Đây là một dạng u lành tính. U không phát triển thành ác tính.

    2. Điều trị:

    - Phẫu thuật cắt bỏ là tốt nhất, tránh bị bội nhiễm, ngay cả khi kích thước nhỏ 1-2 cm.

    3. Dự phòng:

    - Nếu bạn muốn hạn chế U phải làm cho da sạch, khô thoáng, nếu da bạn nhờn phải lau rửa da, tắm hàng ngày giúp chân lông thông thoáng để chất bã tiết ra hết; bạn nên dùng các xà phòng hoặc sữa tắm có tác dụng làm khô da, thoáng.

     

     

     


  • 6. điều trị ung thư phổi
    -

    Bạn Thanh Ngoan thân mến.

    Trước hết, chúng tôi xin chia sẻ với bạn và gia đình bạn khi mẹ của bạn bị ung thư phổi, theo như thông tin bạn cung cấp là đã khám tại bệnh viện K và được tư vấn là cần thiết phải phẫu thuật, nhưng gia đình muốn xin chuyển ra bệnh viện chúng tôi để điều trị.

    Tại bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi cũng có rất nhiều bệnh nhân được điều trị và phẫu thuật Ung thư Phổi bạn ạ, kíp phẫu thuật do trực tiếp TS Hoàng Đình Chân - giám đốc bệnh viện (nguyên Trưởng khoa phẫu thuật lồng ngực - bệnh viện K) thực hiện.

    Ngoài điều trị phẫu thuật, khi cần, có thể bệnh nhân sẽ phải điều trị kết hợp với các phương pháp điều trị khác và bệnh viện đều có các bac sỹ , các chuyên gia tư vấn và điều trị bạn ạ.

    Về giá viện phí: Bệnh nhân được hưởng toàn bộ quyền lợi nếu có thẻ Bảo hiểm y tế; tiền phẫu thuật khoảng trên 10 triệu, tiền giường bệnh là 500.000 đồng/ngày, nói chung là bệnh nhân bị Ung thư cũng phải lưu ý về thẻ Bảo hiểm y tế vì chi phí phẫu thuật có thể lo được, nhưng chi phí điều trị tiếp theo rất tốn kém.

    Vì bạn đang lo lắng, bệnh viện chúng  tôi sẽ gọi điện tư vấn trực tiếp cho bạn.

    Thân ái.


  • 7. lỗ đái thấp.
    -

    Chào bạn thân mến.

    Chúng tôi rất thông cảm với bạn về bệnh lý lỗ đái lệch thấp này.

    Tại bệnh viện chúng tôi có chuyên gia đầu ngành để phẫu thật cách bệnh Nhi về bệnh lý lỗ đái lệch thấp này là GS. Bích, tuy nhiên phần lớn bệnh Nhi được phẫu thuật khi còn nhỏ tuổi, vì bệnh càng phẫu thuật sớm càng giúp trẻ nhỏ có được đường tiểu theo đúng giải phẫu nhất.

    Nguyên tắc điều trị:  Cắt bỏ các tổ chức xơ quanh vật hang dương vật để dựng thẳng đứng dương vật, tạo hình lại niệu đạo bằng các vạt da và tổ chức, đưa lỗ niệu đạo ra đúng vị trí qui đầu. Vạt da và tổ chức sử dụng có thể dùng:

    - Vạt da có cuống

    - Vạt da hoặc các mảnh tổ chức niêm mạc tự do

    Mục tiêu của quá trình điều tri là tạo nên một dương vật bình thường về mặt chức năng và giải phẫu.

    Vì vậy chúng tôi khuyên bạn hãy phẫu thuật sớm để lỗ niệu đạo sớm được đưa ra vị trí qui đầu.

    Nếu bạn lo lắng về ca phẫu thuật, bạn có thể đến bệnh viện chúng tôi, chúng tôi liên hệ để bạn được GS. Bích tư vấn và trực tiếp phẫu thuật cho bạn.

    Thân ái.

    Để bạn hiểu rõ hơn về  bệnh Lỗ đái lệch thấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

     

    Lỗ đái lệch thấp (Hypospadias) là dị tật bẩm sinh của dương vật làm cho niệu đạo, vật hang, vật xốp, qui đầu và da qui đầu phát triển không hoàn toàn. Lỗ niệu đạo có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào trên thân dương vật, thậm chí có thể nằm ở bìu hay tầng sinh môn.

    Ở một trẻ trai bình thường, sau khi kéo da bao quy đầu lên trên để lộ quy đầu, chúng ta thấy lỗ đái nằm gần chính giữa của quy đầu dương vật của trẻ. Ngoài ra, khi trẻ buồn đái hoặc cương dương vật lúc ngủ, dương vật của trẻ dựng thẳng và đôi lúc hơi cong hướng lên phía bụng trẻ.

    Ở một số trẻ trai, sau khi kéo da bao quy đầu lên trên để lộ quy đầu, lỗ đái nằm thấp hơn về phía dưới (hay phía sau), đôi khi lỗ đái nằm đến gốc của dương vật hay bìu. Những trường hợp như vậy được gọi là lỗ đái đổ thấp

     

    1. Phân loại lỗ đái lệch thấp

    Việc phân loại lỗ đái lệch thấp dựa vào vị trí lỗ niệu đạo mở ra trên dọc chiều dài của dương vật và tầng sinh môn. Tương ứng với từng vị trí đó mà người ta chia ra các thể lệch thấp khác nhau.

    Lỗ đái lệch thấp đoạn trước:

    - Phần thấp qui đầu: Vị trí lỗ đái nằm ở phần thấp của qui đầu. Thể này không gây ảnh hưởng nhiều cho người bệnh

    - Rãnh qui đầu: Vị trí lỗ đái nằm ở phần rãnh qui đầu. Thể này bệnh nhân vẫn sinh hoạt bình thường và bệnh ít gây ảnh hưởng đến người bệnh, ngoại trừ một số mặc cảm về tâm lí

    Lỗ đái lệch thấp đoạn thân dương vật:

    - Phần đầu của thân dương vật: Vị trí lỗ đái nằm ở phần đầu của thân dương vật, tính từ qui đầu trở xuống phía xương mu. Ở vị trí này bệnh bắt đầu làm cho dương vật cong và ngắn, cản trở hoạt động tình dục và sinh sản.

    - Giữa thân dương vật: Vị trí lỗ đái nằm ở giữa thân dương vật. Hầu như tất cả bệnh nhân đều không thể hoạt động được tình dục do dương vật ngắn và cong.

    - Phần gốc của thân dương vật: Vị trí lỗ đái nằm ở gốc dương vật. Trường hợp này bệnh nhân không thể đứng đái được mà phải đái ngồi. Dương vật ngắn và cong làm cho bênh nhân không thể hoạt động tình dục được và hoàn toàn không thể có con được một cách tự nhiên nếu không điều trị phẫu thuật.

    Lỗ đái lệch thấp đoạn sau:

    Đây là thể nặng nhất của bệnh, thể này không những gây ảnh hưởng đến đời sống sinh lý mà gây ảnh hưởng nhiều đến đời sống tâm lý của người bệnh. Thể này bao gồm:

    - Chỗ nối dương vật- bìu

    - Ở bìu

    - Tầng sinh môn

    Cụ thể được phân loại như sau:

    - Thể trước (nhẹ): lỗ đái nằm đoạn ở quy đầu hay rãnh quy đầu, chiếm 50%

    - Thể giữa (trung bình): lỗ đái nằm đoạn 1/3 trước và 1/3 giữa của dương vật, chiếm 30%

    - Thể gần (nặng): lỗ đái nằm đoạn 1/3 sau của dương vật, bìu và tầng sinh môn, chiếm 20%

     

    2. Triệu chứng của dị tật lỗ đái thấp

    Triệu chứng điển hình đầu tiên ở trẻ bị lỗ đái đổ thấp là lỗ đái của trẻ không nằm ở đỉnh của dương vật mà nằm dọc theo mặt dưới của thân dương vật (hình 3).

    Hình 3 : Ở trẻ bị ỗ đái đổ thấp, lỗ đái nằm ở mặt dưới của thân dương vật. Mũi tên chỉ vị trí của lỗ đái.

    3. Tỷ lệ trẻ mắc dị tật lỗ đái đổ thấp

    Tỉ lệ trẻ mắc lỗ đái đổ thấp dao động từ 3 phần ngàn đến 1 phần trăm trẻ sơ sinh đủ tháng, có nghĩa là cứ mỗi 1000 trẻ em sinh ra thì có từ khoảng 3 đến 10 trẻ mắc lỗ đái đổ thấp.

    4. Nguyên nhân trẻ bị mắc dị tật lỗ đái đổ thấp

    Cho đến nay, dị tật lỗ đái đổ thấp vẫn chưa rõ nguyên nhân. Các yếu tố môi trường, nội tiết và di truyền được cho là có liên quan cộng hưởng đến sự hình thành nên dị tật này.

    Về phương diện bào thai học, vào tuần thứ 8 trong thời kỳ bào thai, một loại tế bào của tinh hoàn gọi là tế bào Leydig sẽ sản xuất ra Testosteron để kích thích làm dài củ sinh dục (sau này là dương vật). Do củ sinh dục phát triển dài ra, nên máng niệu đạo cũng phát triển dài ra theo và sự phát triển của niệu đạo sẽ gần như hoàn tất vào tuần thứ 13 của thời kì bào thai. Khi một nguyên nhân nào đó làm cho quá trình phát triển của máng niệu đạo bị ngừng lại sẽ gây tật lỗ đái đổ thấp ở trẻ nam

     

    Dị tật lỗ đái đổ thấp là loại dị tật thường kèm theo các dị tật khác mà nhất là ở cơ quan sinh dục ngoài như bìu và tinh hoàn. Nhiều thống kê cho thấy tỷ lệ trẻ dị tật lỗ đái đổ thấp có kèm theo tinh hoàn ẩn là 8-10%, và kèm theo thoát vị bẹn là 10-15%. Đặc biệt, nếu trẻ bị dị tật lỗ đái đổ thấp thể càng nặng (nằm cuối dương vật hay gần bìu) thì dị tật tinh hoàn ẩn kèm theo gặp càng nhiều. Chính vì vậy, ngoài việc xác định lỗ đái đổ thấp còn cần khám kỹ bìu của trẻ (xem thêm bài thoát vị bẹn và tinh hoàn ẩn) để phát hiện các dị tật này.

    5. Những dị tật phối hợp với lỗ đái lệch thấp

    Tinh hoàn không xuống bìu và thoát vị bẹn

    Tinh hoàn không xuống bìu và thoát vị bẹn là hai dị tật phổ biến nhất phối hợp với lỗ đái lệch thấp. Tinh hoàn ẩn và thoát vị bẹn xuất hiện với tỉ lệ 9,%. Tỷ lệ này tăng lên khi lỗ đái lệch thấp đoạn sau.

    Dị tật đường tiết niệu

    Dị tật đường tiết niệu ở những bệnh nhân lỗ đái lệch thấp đơn thuần không nhiều. Nhưng khi lỗ đái lệch thấp có phối hợp với các bất thường ở các cơ quan khác thì tỉ lệ này rất cao. Khoảng 46% có bất thường đường tiết niệu trên với lỗ đái lệch thấp và dị tật không có hậu môn

    Túi bầu dục tuyến tiền liệt (utriculus masculinus)

    Túi bầu dục tuyến tiền liệt (utriculus masculinus) là một túi nhỏ mở rộng khỏi niệu đạo vào nhu mô tuyến tiền liệt. Bất thường này thấy ở khoảng 11% trong các trường hợp lỗ đái lệch thấp đoạn sau.

    Rối loạn biệt hóa giới tính

    Di tật rối loạn biệt hóa giới tính cần phải đặt ra ở tất cả các trường hợp lỗ đái lệch thấp đoạn sau phối hợp với tật tinh hoàn không xuống bìu. Cần tiến hành làm xét nghiệm karotyp và xét nghiệm nội tiết tố để xác định.

     

     


  • 8. bướu thận trái ác tính
    -

    Thân chào bạn Hoa.

    Để chẩn đoán và điều Ung thư thận, bạn tham khảo tài liệu tư vấn của bệnh viện chúng tôi về bệnh Ung thư thận bạn nhé.

    II. Chẩn Đoán Ung Thư Thận

    Để tìm nguyên nhân gây triệu chứng, bác sĩ cần khai thác tiền bệnh sử của bệnh nhân và tiến hành khám lâm sàng. Bên cạnh việc kiểm tra các dấu hiệu vê sức khỏe chung, bác sĩ có thể chỉ định làm xét nghiệm máu và nước tiểu. Bác sĩ có thể khám kỹ vùng bụng để tìm u cục hoặc các khối bất thường.


    Bác sĩ thường chỉ định các thăm dò hình ảnh của thận và các cơ quan lân cận. Những bức tranh này thường có thể cho biết các thay đổi ở thận và mô xung quanh. Ví dụ, chụp hệ tiết niệu có tiêm thuốc cản quang tình mạch (IVP) là chụp X quang thận, niệu quản và bàng quang sau khi tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch. Các hình ảnh chụp được có thể cho thấy những biến đổi về hình dạng của các cơ quan này và các hạch lymphô lân cận. Chụp động mạch sẽ cung cấp một loạt phim X quang chụp mạch máu. Thuốc cản quang được tiêm vào mạch máu lớn qua một ống thông. Phim chụp cho thấy mạng lưới mạch máu nhỏ hơn ở bên trong và xung quanh thận. Các thăm dò bằng hình ảnh khác bao gồm chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ và siêu âm, có thể cho thấy sự khác biệt giữa các mô bệnh và các mô lành.

    Nếu kết quả xét nghiệm nghi ngờ ung thư thận thì có thể tiến hành sinh thiết. Sinh thiết là cách duy nhất chắc chắn để chẩn đoán ung thư. Sinh thiết để tìm ung thư thận tức là bác sĩ chọc một kim nhỏ vào trong khối u và hút ra một mẫu mô. Sau đó, bác sĩ giải phẫu bệnh quan sát mô đó dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư.

    Khi chẩn đoán ung thư thận, bác sĩ cần xác định giai đoạn hoặc phạm vi của bệnh. Phân giai đoạn là một quá trình thăm dò chi tiết để phát hiện ung thư đã lan chưa và nếu lan thì lan tới phần nào của cơ thể. Bác sĩ cần phải có thông tin này để lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân. Để phân giai đoạn ung thư thận, bác sĩ có thể cho chụp bổ sung cộng hưởng từ và chụp X quang các mô và mạch máu ở bên trong và xung quanh thận. Bác sĩ có thể tìm các hạch lymphô bị sưng to lên ở trong lồng ngực và ổ bụng qua chụp cât lớp vi tính. Chụp X quang lồng ngực thường có thể cho biết ung thư đã di căn vào phổi chưa. Xạ hình xương là dùng chất phóng xạ để ghi hình xương, có thể phát hiện ra các dấu hiệu di căn của ung thư vào xương.

    II. Điều Trị Ung Thư Thận

     

    1. Các phương pháp điều trị tại chỗ

    Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư thận phổ biến nhất. Phẫu thuật được thực hiện là cắt bỏ thận. Bác sĩ phẫu thuật thường cắt bỏ toàn bộ quả thận cùng với tuyến thượng thận và các mô quanh thận. Một số hạch bạch huyết trong vùng có thể được nạo vét. Đây là thủ thuật cắt thận triệt để. Trong một số trường hợp, bác sĩ phẫu thuật chỉ cắt bỏ thận (thủ thuật cắt thận đơn giản). Quả thận còn lại nói chung có thể đảm đương được công việc của cả hai thận. Một số trường hợp khác, bác sỹ phẫu thuật chỉ cẳt bỏ một phần quả thận nơi có khối u, gọi là thủ thuật cắt thận bán phần.

    Thuyên tắc động mạch nghĩa là làm tắc động mạch để khối u thuyên giảm đi, đôi khi được thực hiện trước phẫu thuật để có thể tiến hành phẫu thuật dễ dàng hơn. Nó cũng thường được sử dụng để giảm đau hoặc chống chảy máu khi không thể cắt bỏ được khối u. Các miếng xốp nhỏ bằng gelatin đặc biệt hoặc bằng chất liệu khác được tiêm vào cơ thể qua một ống thông để làm tác các mạch máu chính ở thận. Thủ thuật này làm nhỏ khối u nhờ việc giảm tưới dòng máu mang ôxy và các chất dinh dưỡng cần cho khối u phát triển.

    Dưới đây là một số câu hỏi mà bệnh nhân thường đặt ra trước khi phẫu thuật:
    - Loại phẫu thuật nào sẽ được thực hiện?
    - Có cần phải tiếp tục điều trị sau khi phẫu thuật không? Cách điều trị như thế nào?
    - Tôi sẽ cảm thấy thế nào sau khi phẫu thuật?
    - Nếu tôi bị đau, bác sĩ có thể giúp tôi như thế nào?
    - Khi nào tôi có thể bắt đầu trở lại hoạt động thường ngày?

    Liệu pháp tia xạ là sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Đôi khi, bác sĩ sử dụng liệu pháp này để giảm đau (điều trị triệu chứng) khi ung thư thận đã di căn vào xương. Người ta điều trị ung thư thận bằng phương pháp chiếu xạ ngoài, dùng một vật liệu phóng xạ bên ngoài cơ thể và một máy chiếu xạ hướng các tia vào một vùng cụ thể. Bệnh nhân ngoại trú được điều trị ở bệnh viện hoặc phòng khám năm ngày mỗi tuần trong vài tuần. Phác đồ điều trị này giúp bảo vệ các mô lành nhờ sự tỏa tổng liều phóng xạ ra ngoài. Bệnh nhân không cần nằm viện trong khi tiến hành xạ trị và bệnh nhân không mang nguồn xạ trong và sau khi điều trị.

    Dưới đây là một số câu hỏi mà bệnh nhân thường hỏi bác sĩ trước khi tiến hành xạ trị:
    - Mục đích của phương pháp điều trị này là gì?
    - Khi nào thì việc điều trị bát đầu? Khi nào thì kết thúc?
    - Tôi sẽ cảm thấy như thế nào trong thời gian điều trị? Có thể có những tác dụng phụ nào?
    - Tôi có thể làm gì để chăm sóc bản thân trong khi điều trị bầng tia phóng xạ?
    - Làm cách nào tôi biết được điều trị có hiệu quả hay không?
    - Liệu tôi có thể tiếp tục hoạt động như bình thường trong thời gian điều trị tia phóng xạ hay không?

    2. Các phương pháp điều trị toàn thân
    Phẫu thuật và thuyên tác động mạch là các phương pháp điều trị tại chỗ. Các phương pháp đó chỉ tác động tới tế bào ung thư trong vùng điều trị.Liệu pháp sinh học, hóa trị liệu và liệu pháp hoóc-môn, được giải thích sau đây, là các phương pháp điều trị toàn thân bởi vì chúng đi vào hệ thống mạch máu và tới các tế bào trong toàn bộ cơ thể.

    Liệu pháp sinh học là một dạng điều trị tăng cường khả năng kháng ung thư tự nhiên của cơ thể (hệ thống miễn dịch). Interleukin-2 và interferon là hai loại thuốc sử dụng trong liệu pháp sinh học để điều trị ung thư thận giai đoạn muộn. Các thử nghiệm lâm sàng tiếp tục nghiên cứu các phương pháp tốt hơn để tiến hành liệu pháp sinh học đồng thời có thể giảm được tác dụng phụ. Nhiều bệnh nhân được điều trị bâng liệu pháp sinh học cần nảm viện trong thời gian điều trị để có thể theo dõi được các tác dụng phụ này.

    Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Mặc dù có hiệu quả trong điều trị nhiều loại ung thư khác nhưng hóa trị liệu lại tỏ ra hạn chê' đối với ung thư thận. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu các loại thuốc và các phác đồ phối hợp thuốc mới có thể có hiệu quả hơn.

    Liệu pháp hoóc-môn được áp dụng cho một số lượng nhỏ bệnh nhân ung thư thận giai đoạn muộn. Một số trường hợp ung thư thận có thể điều trị bầng hoóc-môn để kiểm soát sự phát triển của tế bào ung thư. Thông thường hoóc- môn được sử dụng để điều trị triệu chứng.

     


  • 9. ung thư tuyến giáp
    -

    Bạn An thân mến,

    Với thông tin bạn cung cấp, chúng tôi chỉ có thể gợi ý đây là 1 khối u ở tuyến giáp, cũng có thể là 1 khối viêm ở tuyến giáp.

    Để chẩn đoán chính xác bạn cần phải cung cấp thêm các thông tin khác về lâm sàng cũng  như chức năng tuyến giáp, xét nghiệm tế bào (nếu đã làm) hoặc bạn phải khám lại tại cơ sở chuyên khoa Nội tiết hoặc Ung bướu.

    Chúng tôi sẽ gọi điện cho bạn để tư vấn thêm cho bạn.

    Thân ái,


  • 10. Hỏi đáp về phì đại tuyến vú ở nam giới
    -

    Bạn Tuấn Anh thân mến.

    Theo thông tin bạn cung cấp, bạn sau khi tập thể hình, có nghỉ 1 thời gian thì tăng cân, vú to lên, sờ thấy 1 cục nhỏ, cứng, không đau?

    Có thể do sau khi bạn tập thể hình, bộ ngực to ra do sự phát triển khối cơ ngực; cũng có thể là phì đại tuyến vú nam giới; cũng có thể là sự bất thường do sự xuất hiện của khối u...

    Vì bạn ở Hà Nội, bạn hãy sắp xếp đến bệnh viện chúng tôi để bác sỹ khám bệnh bạn nhé, sau khi bác sỹ khám lâm sàng, sẽ cho bạn làm 1 số xét nghiệm cần thiết giúp cho chẩn đoán bệnh được chính xác để có phương pháp điều trị và tư vấn cho bạn phù hợp nhất.

    Thân ái.

     

    Để bạn hiểu thêm về  bệnh Phì đại tuyến vú nam giới, chúng tôi xin cung cấp tài liệu tư vấn cho bạn:

    *Phì đại tuyến vú ở nam giới

     

    Phì đại tuyến vú là tình trạng phì đại, quá phát ở tuyến vú của nam giới, làm cho bộ ngực người nam to như ở phái nữ.

    1)Nguyên nhân

    - Thường thì tuyến vú ở nam giới nhỏ, nó không hiện hữu khổng lồ và rõ như ở nữ.

    - Một khi tuyến vú ở nam quá to thì đó là một sự bất thường.

    - Cần phân biệt phì đại tuyến vú ở nam với giả phì đại ở những người béo và ở người luyện tập thể hình.
    + Ở người béo, tuyến vú có thể to ra do mô mỡ xung quanh tuyến vú to ra, chứ không có sự phát triển quá kích cỡ của tuyến vú dưới da.

    + Ở người tập thể hình thì lại hoàn toàn khác, bộ ngực nam giới có thể to hơn cả phụ nữ là do sự phát triển của khối cơ ngực.

    + Còn phì đại tuyến vú thực sự thì toàn bộ tuyến vú to ra mà không hề liên quan đến lớp mỡ xung quanh dày hay mỏng, ít hay nhiều.

    - Phì đại tuyến vú có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào, người nào.

    Nhưng thường thì có 3 thời điểm mà bệnh có thể xảy ra: trẻ nhỏ, tuổi thành niên và người cao tuổi.

    + Phì đại tuyến vú ở trẻ nhỏ chỉ là tính chất sinh lý; ở tuổi trưởng thành và người cao tuổi mới thực sự là bệnh lý.

    + Nguyên nhân gây phì đại tuyến vú là do mất cân bằng giữa hormone nam và nữ. Có nhiều nguyên nhân làm mất cân bằng, như một số bệnh lý ở tinh hoàn, các khối ung thư lân cận, các hội chứng rối loạn tình dục và một số bệnh lý khác.

    - Trong các bệnh về tinh hoàn thì có hai bệnh ung thư tinh hoàn và viêm tinh hoàn có thể gây ra phì đại tuyến vú. Các khối ung thư có thể gây ra phì đại tuyến vú là ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư gan, u tuyến yên. Các hội chứng rối loạn tình dục có sự xuất hiện của phì đại tuyến vú là hội chứng Klinefelter, hội chứng Kallmann, đồng tính nam. Một số bệnh lý khác có liên quan là cường giáp, u tuyến thượng thận, lạm dụng thuốc...  

    2) Nhận dạng

    - Ban đầu có thể thấy núm vú to ra, sờ núm vú cảm giác chính giữa có thể có nhân to, chắc, rắn.

    - Nhân này sau lan ra thành một quầng mà ta có thể di chuyển được, sờ được như một tấm đệm lót ở trong vú.

    - Nó có thể to trên 5 cm và thường bị cả hai vú. Ngực trở nên nhão, chảy, xệ, nhất là hai đầu vú.

    - Do vậy, phì đại tuyến vú gây mặc cảm cho nam giới.

    3) Xét nghiệm:

    - Siêu âm, chụp để xác định kích cỡ tuyến vú, định lượng nồng độ hormone nam và nữ.

    4) Điều trị:

    - Với phì đại tuyến vú ở trẻ em, hay gần đến tuổi dậy thì, chúng ta không cần can thiệp gì, vì đây chỉ là sự biến đổi mang tính chất sinh lý do cơ thể dư thừa hormone nữ. Đến dậy thì cơ thể các em trai tự khắc tiết đủ hormone nam và bộ ngực thường trở lại.

    - Còn ở người trưởng thành thì tùy trường hợp mà có biện pháp điều trị thích hợp.