Câu hỏi
Hỏi đáp sức khỏe
Liệu em có bị ung thư dương vật không?
Thưa bác sĩ, dương vật của em có nổi một cục nhỏ ở ngay bao quy đầu. Bác sĩ cho em hỏi liệu em có bị ung thư dương vật không ạ?
Lý Thanh Hậu - Hà Nội
Trả lời
Hỏi đáp sức khỏe
BS Lê Anh Tuấn - Bác sỹ khoa điều trị

Thân chào bạn,

Thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi không đủ để chúng tôi chẩn đoán bạn có bị ung thư dương vật hay không?

Chúng tôi xin tư vấn thêm cho bạn hiể hơn về bệnh Ung thư dương vật:

-Ung thư dương vật thường gặp ở nam giới tuổi trên 40, có hẹp bao quy đầu hoặc xảy ra ở những người có bệnh lây truyền qua đường tình dục.

-Biểu hiện sớm của bệnh thường là thay đổi màu sắc da dương vật, đau bất thường, ra máu khi giao hợp hoặc nổi cục bất thường.

-Chẩn đoán bệnh được thực hiện bằng thăm khám lâm sàng, xét nghiệm và sinh thiết giải phẫu bệnh.

-Tiên lượng của điều trị ung thư dương vật phụ thuộc nhiều vào việc chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Vì vậy, chúng tôi khuyên bạn hãy đến bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi để khám bệnh bạn nhé, các bác sỹ sẽ tiến hành thăm khám, cho xét nghiệm cần thiết để giúp bạn điều trị được tốt nhất.

Hân hạnh chào đón bạn.

Qua đây, chúng tôi cũng khuyên các bậc phụ huynh hãy đưa các bé trai kiểm tra bao quy đầu của các bé có bị hẹp hay không? Vì nếu có hẹp bao quy đầu thì phải xử lý ngay từ khi nhỏ (trường hợp dễ thì dùng panh để lộn bao quy đầu ra, trường hợp cần thiết thì phải cắt bao quy đầu) vì đây là một trong những yếu tố nguy cơ gây ung thư dương vật.

Thân ái!


Hỏi đáp sức khỏe Câu hỏi mới nhất
  • 1. ung thư tuyến giáp
    -

    Bạn An thân mến,

    Với thông tin bạn cung cấp, chúng tôi chỉ có thể gợi ý đây là 1 khối u ở tuyến giáp, cũng có thể là 1 khối viêm ở tuyến giáp.

    Để chẩn đoán chính xác bạn cần phải cung cấp thêm các thông tin khác về lâm sàng cũng  như chức năng tuyến giáp, xét nghiệm tế bào (nếu đã làm) hoặc bạn phải khám lại tại cơ sở chuyên khoa Nội tiết hoặc Ung bướu.

    Chúng tôi sẽ gọi điện cho bạn để tư vấn thêm cho bạn.

    Thân ái,


  • 2. Hỏi đáp về phì đại tuyến vú ở nam giới
    -

    Bạn Tuấn Anh thân mến.

    Theo thông tin bạn cung cấp, bạn sau khi tập thể hình, có nghỉ 1 thời gian thì tăng cân, vú to lên, sờ thấy 1 cục nhỏ, cứng, không đau?

    Có thể do sau khi bạn tập thể hình, bộ ngực to ra do sự phát triển khối cơ ngực; cũng có thể là phì đại tuyến vú nam giới; cũng có thể là sự bất thường do sự xuất hiện của khối u...

    Vì bạn ở Hà Nội, bạn hãy sắp xếp đến bệnh viện chúng tôi để bác sỹ khám bệnh bạn nhé, sau khi bác sỹ khám lâm sàng, sẽ cho bạn làm 1 số xét nghiệm cần thiết giúp cho chẩn đoán bệnh được chính xác để có phương pháp điều trị và tư vấn cho bạn phù hợp nhất.

    Thân ái.

     

    Để bạn hiểu thêm về  bệnh Phì đại tuyến vú nam giới, chúng tôi xin cung cấp tài liệu tư vấn cho bạn:

    *Phì đại tuyến vú ở nam giới

     

    Phì đại tuyến vú là tình trạng phì đại, quá phát ở tuyến vú của nam giới, làm cho bộ ngực người nam to như ở phái nữ.

    1)Nguyên nhân

    - Thường thì tuyến vú ở nam giới nhỏ, nó không hiện hữu khổng lồ và rõ như ở nữ.

    - Một khi tuyến vú ở nam quá to thì đó là một sự bất thường.

    - Cần phân biệt phì đại tuyến vú ở nam với giả phì đại ở những người béo và ở người luyện tập thể hình.
    + Ở người béo, tuyến vú có thể to ra do mô mỡ xung quanh tuyến vú to ra, chứ không có sự phát triển quá kích cỡ của tuyến vú dưới da.

    + Ở người tập thể hình thì lại hoàn toàn khác, bộ ngực nam giới có thể to hơn cả phụ nữ là do sự phát triển của khối cơ ngực.

    + Còn phì đại tuyến vú thực sự thì toàn bộ tuyến vú to ra mà không hề liên quan đến lớp mỡ xung quanh dày hay mỏng, ít hay nhiều.

    - Phì đại tuyến vú có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào, người nào.

    Nhưng thường thì có 3 thời điểm mà bệnh có thể xảy ra: trẻ nhỏ, tuổi thành niên và người cao tuổi.

    + Phì đại tuyến vú ở trẻ nhỏ chỉ là tính chất sinh lý; ở tuổi trưởng thành và người cao tuổi mới thực sự là bệnh lý.

    + Nguyên nhân gây phì đại tuyến vú là do mất cân bằng giữa hormone nam và nữ. Có nhiều nguyên nhân làm mất cân bằng, như một số bệnh lý ở tinh hoàn, các khối ung thư lân cận, các hội chứng rối loạn tình dục và một số bệnh lý khác.

    - Trong các bệnh về tinh hoàn thì có hai bệnh ung thư tinh hoàn và viêm tinh hoàn có thể gây ra phì đại tuyến vú. Các khối ung thư có thể gây ra phì đại tuyến vú là ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư gan, u tuyến yên. Các hội chứng rối loạn tình dục có sự xuất hiện của phì đại tuyến vú là hội chứng Klinefelter, hội chứng Kallmann, đồng tính nam. Một số bệnh lý khác có liên quan là cường giáp, u tuyến thượng thận, lạm dụng thuốc...  

    2) Nhận dạng

    - Ban đầu có thể thấy núm vú to ra, sờ núm vú cảm giác chính giữa có thể có nhân to, chắc, rắn.

    - Nhân này sau lan ra thành một quầng mà ta có thể di chuyển được, sờ được như một tấm đệm lót ở trong vú.

    - Nó có thể to trên 5 cm và thường bị cả hai vú. Ngực trở nên nhão, chảy, xệ, nhất là hai đầu vú.

    - Do vậy, phì đại tuyến vú gây mặc cảm cho nam giới.

    3) Xét nghiệm:

    - Siêu âm, chụp để xác định kích cỡ tuyến vú, định lượng nồng độ hormone nam và nữ.

    4) Điều trị:

    - Với phì đại tuyến vú ở trẻ em, hay gần đến tuổi dậy thì, chúng ta không cần can thiệp gì, vì đây chỉ là sự biến đổi mang tính chất sinh lý do cơ thể dư thừa hormone nữ. Đến dậy thì cơ thể các em trai tự khắc tiết đủ hormone nam và bộ ngực thường trở lại.

    - Còn ở người trưởng thành thì tùy trường hợp mà có biện pháp điều trị thích hợp.


  • 3. Hỏi đáp về ung thư vú?
    -

    Bạn Cẩm Tú thân mến.

    Bạn đã khám và được chẩn đoán là U xơ vú phải (kích thước 9x7mm) và bác sỹ đã kê đơn cho bạn cũng như hẹn bạn đến tái khám; nhưng bạn vẫn lo lắng?

    Bệnh u xơ (hay viêm xơ) tuyến vú tùy thuộc vào tình trạng bệnh và có phương pháp xử trí cho phù hợp.

    Bạn hãy tuân thủ theo hướng dẫn của bác sỹ bạn nhé.

    Chúc bạn luôn vui vẻ, yêu đời và nhớ kiểm tra sức khỏe theo lịch hẹn của bác sỹ.

    Thân ái.

     

    Để bạn hiểu thêm về bệnh U xơ tuyến vú và yên tâm hơn, cũng như có ý thức theo dõi tình trạng sức khỏe của mình hơn, chúng tôi xin cung cấp cho bạn về bệnh lý này như sau:

    BỆNH U XƠ TUYẾN VÚ

     

    1)Nguyên nhân: Chủ yếu là do hoóc môn sinh dục tiết ra nhiều, xuất phát từ tình trạng mất cân bằng nội tiết trong chu kỳ hàng tháng của người phụ nữ.  Là u lành tính phổ biến của tuyến vú, u xơ tuyến vú thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản hoặc ở thời kỳ tiền mãn kinh.

     

     2)Nhận biết:

    -U xơ tuyến vú có hình tròn, nhẵn, giống như hòn bi trong vú. U di động được và có thể ở bất cứ nơi nào trong vú, vị trí hay gặp là gần núm vú. Kích thước của khối u giao động từ 5mm - 5cm, tùy thuộc vào thời gian phát triển.

     

    -Khi có cảm giác nóng, bỏng rát trong bầu ngực, vú sưng hoặc có cảm giác bất thường về hình dáng kèm theo những nốt sần ở ngực khi có kinh nguyệt, bạn nên đi thăm khám ngay vì đó là những dấu hiệu của u xơ tuyến vú . Các triệu chứng trên có thể hết khi kỳ kinh qua đi.

     

    3)Điều trị: 

    -U xơ tuyến vú có thể không cần loại bỏ khi không gây cảm giác khó chịu hoặc có kích thước lớn. Trong nhiều trường hợp, những khối u này có thể tự biến mất, bệnh hiếm khi phát triển thành ung thư.

     

    -Việc điều trị u xơ tuyến vú còn tùy thuộc vào tính chất, mức độ, vị trí, số lượng của khối u. Tùy vào tình hình bệnh ở thời điểm hiện tại, sẽ có những phác đồ điều trị riêng.

     

    -Các biện pháp thường được sử dụng trong điều trị u xơ tuyến vú là phẫu thuật cắt bỏ u xơ hoặc nội khoa dùng thuốc điều chỉnh nội tiết giúp điều hòa kinh nguyệt, điều hòa lượng hoóc môn trong cơ thể, cân bằng nội tiết, ngăn ngừa quá trình hình thành u trong vú, loại trừ khả năng ung thư vú.

     
    4) Phòng bệnh:

    -Để ngăn chặn khả năng hình thành u vú từ sớm, chị em nên có chế độ ăn uống sinh hoạt, nghỉ ngơi khoa học; tích cực luyện tập thể dục, thể thao; thường xuyên mát xa vú; có đời sống tình dục lành mạnh; ngủ đủ giấc và không nên thức quá khuya. 

    -Bên cạnh đó, chị em cần thường xuyên đi khám sức khỏe định kỳ (3-6 tháng/lần), siêu âm hoặc chụp hình vú để phát hiện bệnh kịp thời. 

     

    * Mỗi chị em phụ nữ nên chủ động tìm hiểu u xơ vú nhằm trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất để phòng tránh các bệnh của vú.

     


  • 4. u cục to ở đùi
    -

    Thân chào bạn Gia Nghĩa.

    Ngoài hình ảnh bạn cung cấp, chúng tôi cũng cần phải khám để biết thêm tính chất của khối u nữa.

    Một số khối U hay gặp như:

    1) U nang biểu bì.

    2) U mỡ

    3) U bã đậu...

    Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ nhiều đến U nang biểu bì.

    Bạn ở Thái Hà - Hà Nội, gần bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi, bạn hãy sắp xếp đến khám và điều trị bạn nhé.

    Thân ái,

    Để bạn hiểu thêm về bệnh này, chúng tôi xin cung cấp tài liệu về bệnh này như sau:

    * U nang biểu bì (epidermoid cyst):

    - U nang biểu bì (epidermoid cyst) là kết quả của sự tăng sinh các tế bào bề mặt biểu bì trong chân bì. Lớp lót của nhiều u nang không chấn thương được cho là có nguồn gốc phễu nang, bởi vì các u nang này thường phát triển do tắc các nang bã chân lông.

    - Các nguyên nhân ít phổ biến hơn bao gồm sự cấy của các tế bào biểu bì vào chân bì sau chấn thương xuyên và bẫy các tế bào biểu bì dọc theo các đường của mặt phẳng hợp nhất thời kỳ phôi.

    - Các nang này hiếm ở trẻ con nhưng phổ biến ở người lớn, và các bệnh nhân với hội chứng nơvi tế bào đáy (basal cell nevoid syndrome) có thể có nhiều tổn thương.

    -Về mặt hình ảnh, các nang hình bầu dục, với một vành không thâm nhiễm. Mặt nông của nang thường chạm tới mặt sâu của da, và nang thường chứa đầy chất dịch nhầy và các vôi hóa loạn dưỡng rải rác.

    - Các nang thường phát triển chậm, khối không đau làm gồ da và thường có chấm trung tâm biểu hiện lỗ bít của nang bã chân lông. Các nang thường chứa chất sừng vàng-trắng như pho mát. Chúng có thể bị nhiễm khuẩn; không phổ biến, chúng có thể vỡ gây phản ứng ngoại lai.

    - Chẩn đoán phân biệt gồm nang lông của da đầu và mặt, phức hợp nang mỡ.

    - Các nang mỡ (steatocyst) thường bị nhầm với nang biểu bì, mặc dù nang mỡ có thể phân biệt được bởi chúng chứa dịch nhớt như dầu, mầu vàng.

    - Điều trị: Tùy tình trạng khối u, bệnh có thể phẫu thuật cắt bỏ

     

     


  • 5. đau đầu định kì
    -

    Bạn Quốc Dũng thân mến.

    Bạn bị đau đầu 4 năm nay, có kèm mờ 2 mắt; không rõ bạn đã khám, xét nghiệm và uống thuốc gì hay chưa? Mỗi khi đau đầu bạn thường uống thuốc gì? Thuốc nào mà bạn thấy đáp ứng tốt nhất?

    Nguyên nhân gây đau đầu cũng có rất nhiều bạn ạ,

    Bạn hãy đến khám và xin ý kiến của bác sỹ trước khi bạn dùng thuốc nhé.

    Một số trường hợp đau đầu và mờ mắt đôi khi lại do bệnh lý u tuyến yên gây ra.

    Chúng tôi xin cung cấp tài liệu về các nguyên nhân gây ra đau đầu để bạn tham khảo:

    I.Nguyên nhân của đau đầu nguyên phát là gì?

    - Ðau đầu do căng thẳng: nguyên nhân chưa rõ, có thể do bệnh nhân chịu quá nhiều áp lực trong cuộc sống, hay làm việc quá sức. Một số nghiên cứu cho thấy chứng đau đầu này có vẻ như có nguyên nhân tương tự chứng đau nửa đầu.

    -Đau đầu nguyên phát có nguy hiểm không?

    + Ðau đầu do căng thẳng không gây rối loạn chức năng hệ thần kinh hay gây tổn thương não. Nhưng chứng đau nửa đầu thì có thể làm bệnh nhân đột quỵ, tuy nhiên cũng hiếm gặp, nếu có thì đó là chứng đau nửa đầu có biến chứng.

    + Ðối với bệnh đau đầu từng cơn, dù cần phải phân biệt với các bệnh lí thực thể nguy hiểm khác của não, nhưng cũng không chứng minh được bệnh này có thể làm bệnh nhân đột quỵ.

    II. Nguyên nhân của đau đầu thứ phát là gì ?

         Các nguyên nhân của đau đầu thứ phát thường gặp là:

    1. Ung thư não:

    - kể cả u nguyên phát ở não lẫn u di căn từ nơi khác đến như từ vú, từ phổi.

    2. Máu tụ dưới màng cứng (màng cứng là một lớp màng bao bọc não bộ) sau khi chảy từ các tĩnh mạch não bị vỡ. Ðiển hình gặp ở những bệnh nhân lớn tuổi, các tĩnh mạch này vỡ sau một chấn thương vào đầu do ngã hay do va chạm. Bệnh nhân đến khám bác sĩ vì đau đầu kéo dài, thậm chí không nhớ gì đến cú ngã hay va đập trước đó. Triệu chứng là đau đầu mãn tính, kéo dài, thay đổi tính tình, yếu liệt chân tay.

    3. Máu tụ ngoài màng cứng:

    máu chảy thường rất nhanh vì xuất phát từ các động mạch màng não nằm ngay ở mặt trong của não, điển hình thường bị sau một chấn thương mạnh vào đầu làm bệnh nhân choáng váng và gây vỡ sọ. Sau khi tỉnh lại một thời gian, bệnh nhân sẽ đột ngột đi vào hôn mê khi máu chảy nhanh và nhiều, chèn ép não.

    4. Viêm nhiễm:

    Viêm màng não do vi trùng, như não mô cầu (meningococcus), phế cầu (pneumococus), lao, bệnh Lyme, nhiễm nấm cryptococcus.

    5. Ðột quỵ:

    -Do cục máu đông gây tắc mạch máu não, hay do đứt mạch máu não.

    -Xuất huyết khoang màng nhện: do máu chảy vào khoảng giữa não và màng nhện bao bên ngoài. Thành động mạch có một số nơi bị yếu, phình ra tạo thành các túi phình, các túi này có thể vỡ làm xuất huyết vào khoang màng nhện.

    -Cơn tăng huyết áp ác tính (những cơn tăng huyết áp nhẹ hay trung bình thường không gây đau đầu).

    6. Viêm động mạch thái dương:

    -Thường xảy ra nguyên phát ở bệnh nhân cao tuổi, có thể kèm theo mệt mỏi, đau nhức người, thiếu máu. Nếu không được điều trị đặc hiệu, viêm động mạch thái dương có thể làm bệnh nhân mù hay đột quỵ.

    7.Ðau đầu do tăng nhãn áp (tăng áp suất cao bất thường trong mắt).

    Tăng nhãn áp cũng là một trong những nguyên nhân gây đau đầu thứ phát

    8.Viêm xoang, viêm tai, viêm nướu răng.

    -Giảm hoạt động của tuyến giáp: do tuyến giáp không sản xuất đủ hormone giáp như bình thường.

    -Ngộ độc carbon monoxide (CO ) thường xuyên.

    9. Bệnh Parkinson.

    10. Do thuốc:

    Như indomethacin, estrogen, progestin, thuốc ức chế kênh Calcium (thường dùng điều trị tăng huyết áp), các thuốc ức chế việc tái hấp thu seretonin chọn lọc (thuốc điều trị trầm cảm).

    11. Lạm dụng thuốc giảm đau:

    Dùng quá liều thuốc giảm đau có thể tạo nên tình trạng "kháng thuốc", mất tác dụng của thuốc, cơn đau đầu không khống chế được nữa.

    12. Thiếu máu cơ tim (thường do bệnh lí mạch vành): thiếu máu cơ tim ngoài gây đau thắt ngực còn có thể gây đau đầu. Ðau đầu có thể xảy ra đồng thời với cơn đau ngực, và nếu như vậy, đau đầu có thể xuất hiện khi gắng sức và giảm khi nghỉ ngơi.

     


  • 6. benh ve da
    -

    Bạn Thúy Hằng thân mến.

    Với dấu hiệu đổ mồ hôi tay nhiều, thường sẽ nghĩ tới bệnh lý Rối loạn thần kinh thực vật.

    Tuy nhiên, biểu hiện của Rối loạn  thần kinh thực vật bao gồm nhiều triệu chứng, cũng như biểu hiện của ra mồ hôi tay nhiều cũng có khi của 1 số bệnh lý khác. 

    Vì vậy bạn hãy sắp xếp đến khám bệnh nhé, khi đã có chẩn đoán chính xác, bác sỹ sẽ có phác đồ điều trị phù hợp nhất.

    Thân ái,

    Để bạn hiểu thêm về bệnh lý Rối loạn thần kinh thực vật, chúng tôi xin tư vấn cho  bạn như sau:

    * Rối loạn thần kinh thực vật (RLTKTV) ảnh hưởng đến chức năng tự động của các cơ quan trong cơ thể như nhịp tim, huyết áp, mồ hôi và tiêu hóa

    1) Nguyên nhân gây RLTKTV

    RLTKTV có thể là một biến chứng của một số bệnh hay tác dụng phụ của một số thuốc. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh như: các bệnh tự miễn, các cuộc tấn công hệ thống miễn dịch và thương tổn các bộ phận của cơ thể, dây thần kinh; do sự tấn công hệ miễn dịch của một số bệnh ung thư. Bệnh tiểu đường là nguyên nhân phổ biến nhất của RLTKTV, dần dần có thể gây tổn thương thần kinh khắp cơ thể. Tổn thương dây thần kinh do phẫu thuật vùng cổ hoặc do xạ trị. Tác dụng phụ của một số loại thuốc sử dụng trong điều trị ung thư, thuốc chống trầm cảm và một số thuốc tim mạch. Bệnh mạn tính như bệnh Parkinson. Một số bệnh truyền nhiễm: do virut và vi khuẩn, như ngộ độc thức ăn, bệnh bạch hầu... Rối loạn di truyền. Rối loạn tâm sinh lý: các sang chấn tinh thần, thủ dâm quá nhiều ở cả nam và nữ...

    2)Biểu hiện bệnh

    Hệ thần kinh thực vật gồm hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm. Sự mất cân bằng của hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm dẫn đến bệnh lý của hệ thần kinh thực vật. Tùy thuộc vào loại rối loạn mà bệnh biểu hiện thành các triệu chứng khác nhau:

    -Hệ thần kinh: rối loạn vận mạch gây đau đầu khi thay đổi thời tiết; rối loạn tuần hoàn não, giảm trí nhớ, giảm tập trung, ngủ kém, lo âu, buồn bực vô cớ.

    -Tim mạch: chóng mặt và choáng tư thế đứng do tụt huyết áp, hồi hộp, hụt hơi, nhịp tim nhanh hoặc chậm, huyết áp tăng giảm thất thường, đau thắt ngực, thiểu năng mạch vành, khó thích ứng với hoạt động thể lực, nhịp tim thay đổi một cách chậm chạp hoặc không thay đổi để đáp ứng kịp thời với hoạt động thể lực hoặc tập thể dục thể thao.

    -Hệ tiêu hóa: gây rối loạn tiêu hóa do rối loạn chức năng co bóp của dạ dày, ruột. Gây ra cảm giác nhanh no sau khi ăn, ăn không ngon, tiêu chảy, táo bón, đầy hơi, buồn nôn, nôn, khó nuốt và ợ hơi. Kích thích đại tiện khi căng thẳng.

    -Hệ tiết niệu: rối loạn tiết niệu, gây tiểu khó, tiểu không tự chủ, kích thích tiểu tiện khi căng thẳng và tiểu không hết nước tiểu, có thể dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

    -Hệ bài tiết: rối loạn tiết mồ hôi, giảm tiết hoặc tăng tiết quá mức, ảnh hưởng tới khả năng điều tiết nhiệt độ cơ thể, thân nhiệt nóng lạnh bất thường.

    -Hệ hô hấp: co thắt cơ trơn phế quản gây khó thở, tăng khi thay đổi thời tiết hoặc căng thẳng. Hụt hơi khó thở, tức ngực. Ngạt mũi do giãn cuốn mũi.

    -Hệ cơ xương khớp: máy giật cơ, buồn bực chân tay, đau nhức xương khớp khi trở trời.

    -Hệ sinh dục: rối loạn tình dục, bao gồm cả vấn đề đạt được hoặc duy trì sự cương cứng, xuất tinh sớm ở nam giới và khô âm đạo, khó đạt cực khoái ở phụ nữ. Rối loạn kinh nguyệt.

    -Hệ lông tóc móng: bệnh có thể gây rụng tóc, da khô, hư móng, co giãn mạch ngoài da...

    -Triệu chứng toàn thân như: mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, đau đầu, ớn lạnh, đau mỏi vai gáy, đau mỏi cột sống, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn lo âu, có bệnh nhân có cảm giác không sống nổi, như sắp chết. Phản ứng sinh học chậm chạp với ánh sáng, gặp khó khăn khi lái xe vào ban đêm.

    3)Phương pháp điều trị

    -Điều trị RLTKTV chủ yếu là điều trị các nguyên nhân gây bệnh. Việc điều trị triệt để nhằm thiết lập được sự cân bằng trong hệ thần kinh, sự cân bằng giữa hệ giao cảm và phó giao cảm.

    -Tuy nhiên, đến nay, hầu như các nhà chuyên môn mới chỉ điều trị triệu chứng.

    -Các thuốc thường dùng gồm: thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc chữa mất ngủ và những rối loạn lo âu, thuốc điều chỉnh nhu động ruột; thuốc điều chỉnh cơ thắt bàng quang để chữa rối loạn tiểu tiện; thuốc tim mạch; thuốc làm giảm tiết mồ hôi; Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có thuốc làm tăng tiết mồ hôi đối với trường hợp giảm tiết; thuốc điều trị rối loạn cương dương ở nam giới và thuốc bôi trơn âm đạo cho phụ nữ...

    -Kết hợp phương pháp vật lý trị liệu: xông hơi thuốc trên huyệt, xoa bóp, bấm huyệt cũng giúp cho kết quả điều trị cao hơn và nhanh khỏi hơn.

    -Lời khuyên:

    +Bệnh nhân cần tập suy nghĩ tích cực, duy trì thể dục và lối sống lành mạnh, từ bỏ các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, thuốc lào, cà phê, trà đặc...

    +Bệnh nhân cần tập hít thở sâu; xoa vùng trên rốn hàng ngày có giá trị lớn trong phòng và điều trị RLTKTV.

    +Do tác dụng phụ của một số loại thuốc sử dụng trong điều trị ung thư, thuốc chống trầm cảm và một số thuốc tim mạch có thể gây RLTKTV nên bệnh nhân và người khỏe mạnh không nên tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Bệnh nhiễm virut và vi khuẩn cũng gây RLTKTV nên mọi người cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh như: rửa tay thường xuyên sau khi tiếp xúc với đồ vật, sau khi lao động; đeo khẩu trang khi ra đường hay ở nơi công cộng; luôn thực hiện ăn chín uống sôi. Tránh các sang chấn tinh thần; ....

     


  • 7. Hỏi đáp về ung thư vú?
    -

    Bạn Cẩm Tú thân mến.

    Cách đây 2 tuần bạn thấy 1 khối cứng và đau ở vú, còn hiện nay thì không đau nữa? Không biết cách đây 2 tuần khi bạn thấy khối cứng và đau ở vú có trùng với chu kỳ kinh nguyệt hay không? 

    Vì chúng tôi nghĩ nhiều đến là bạn có thể bị U xơ tuyến vú, bạn hãy đi kiểm tra tuyến vú, sau khi khám bệnh, bác sỹ có thể sẽ cho bạn làm thêm siêu âm tuyến vú và các xét nghiệm cần thiết khác.

    Chúng tôi xin tư vấn cho bạn về bệnh U xơ tuyến vú để bạn hiểu thêm nhé:

    BỆNH U XƠ TUYẾN VÚ

     

    1)Nguyên nhân: Chủ yếu là do hoóc môn sinh dục tiết ra nhiều, xuất phát từ tình trạng mất cân bằng nội tiết trong chu kỳ hàng tháng của người phụ nữ.  Là u lành tính phổ biến của tuyến vú, u xơ tuyến vú thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản hoặc ở thời kỳ tiền mãn kinh.

     

     2)Nhận biết:

    -U xơ tuyến vú có hình tròn, nhẵn, giống như hòn bi trong vú. U di động được và có thể ở bất cứ nơi nào trong vú, vị trí hay gặp là gần núm vú. Kích thước của khối u giao động từ 5mm - 5cm, tùy thuộc vào thời gian phát triển.

     

    -Khi có cảm giác nóng, bỏng rát trong bầu ngực, vú sưng hoặc có cảm giác bất thường về hình dáng kèm theo những nốt sần ở ngực khi có kinh nguyệt, bạn nên đi thăm khám ngay vì đó là những dấu hiệu của u xơ tuyến vú . Các triệu chứng trên có thể hết khi kỳ kinh qua đi.

     

    3)Điều trị: 

    -U xơ tuyến vú có thể không cần loại bỏ khi không gây cảm giác khó chịu hoặc có kích thước lớn. Trong nhiều trường hợp, những khối u này có thể tự biến mất, bệnh hiếm khi phát triển thành ung thư.

     

    -Việc điều trị u xơ tuyến vú còn tùy thuộc vào tính chất, mức độ, vị trí, số lượng của khối u. Tùy vào tình hình bệnh ở thời điểm hiện tại, sẽ có những phác đồ điều trị riêng.

     

    -Các biện pháp thường được sử dụng trong điều trị u xơ tuyến vú là phẫu thuật cắt bỏ u xơ hoặc nội khoa dùng thuốc điều chỉnh nội tiết giúp điều hòa kinh nguyệt, điều hòa lượng hoóc môn trong cơ thể, cân bằng nội tiết, ngăn ngừa quá trình hình thành u trong vú, loại trừ khả năng ung thư vú.

     
    4) Phòng bệnh:

    -Để ngăn chặn khả năng hình thành u vú từ sớm, chị em nên có chế độ ăn uống sinh hoạt, nghỉ ngơi khoa học; tích cực luyện tập thể dục, thể thao; thường xuyên mát xa vú; có đời sống tình dục lành mạnh; ngủ đủ giấc và không nên thức quá khuya. 

    -Bên cạnh đó, chị em cần thường xuyên đi khám sức khỏe định kỳ (3-6 tháng/lần), siêu âm hoặc chụp hình vú để phát hiện bệnh kịp thời. 

     

    * Mỗi chị em phụ nữ nên chủ động tìm hiểu u xơ vú nhằm trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất để phòng tránh các bệnh của vú.

     


  • 8. U mỡ
    -

    Bạn Chính thân mến.

    Mẹ của bạn có 1 khối ở sát nách, đã khám bệnh và chưa rõ là u mỡ hay không? Còn khi khám ở bệnh viện trong thị trấn thì chẩn đoán là K?

    Trước hết, bạn hãy bình tĩnh và hãy đưa mẹ bạn đến cơ sở chuyên khoa Ung Bướu để kiểm tra lại bạn nhé, vì nếu chỉ là u mỡ thì không nguy hiểm, nhưng nếu là k thì bắt buộc phải xử trí ngay;

    Chắc bạn đang học ở Hà Nội, nếu bạn và gia đình sắp xếp để đưa mẹ bạn đến khám tại  bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt, chúng tôi sẽ giúp cho bạn, sau khi bác sỹ khám bệnh cho mẹ của bạn, sẽ làm thêm các xét nghệm cần thiết như chọc hút tế bào để xét nghiệm sẽ xác định được đó có phải là khối u mỡ hay không, nếu cần sẽ kiểm tra chuyên sâu hơn.

    Chúng tôi xin tư vấn cho bạn hiểu về bệnh u mỡ nhé:

    HIỂU BIẾT VỀ BỆNH U MỠ

     - U mỡ là một loại u được tạo thành từ những tế bào mỡ, tất cả các u mỡ đều lành tính. U hình tròn, mềm, di động, không đau, phồng lên dưới da, nếu ấn mạnh bằng đầu ngón tay thì lõm xuống.

     - U mỡ không nằm ngay dưới da mà phát triển ở lớp sâu của da (lớp tế bào mỡ dưới biểu bì và hạ bì ngay trên lớp cơ). Khi u mỡ lớn lên, nó tiến sát đến bề mặt da, khiến ta nhìn rõ.

    - Kích thước u rất đa dạng, nó lớn lên theo tuổi tác. U mỡ có thể phát triển ở nhiều vị trí trên khắp cơ thể, hay gặp nhất ở cổ, vai, ngực, bụng, phần trên của lưng, cánh tay, đùi. Rất hiếm khi thấy u mỡ ở trên mặt và hầu như không bao giờ thấy ở bàn chân, bàn tay.

     - U mỡ không có tính di truyền, nhưng những thành viên trong gia đình mắc bệnh rối loạn mỡ nổi cục thường nổi nhiều u mỡ trên khắp cơ thể.

    - Nếu phần da phủ lên u mỡ bị viêm thì u mỡ trở nên kém di động hoặc hơi đau. Khi đó, nên hỏi ý kiến thầy thuốc để biết bản chất của tổn thương là gì.

     - Khi u mỡ gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ một vùng nào đó của cơ thể hoặc gây vướng víu, có thể phẫu thuật . Nên tiến hành phẫu thuật khi thời tiết mát mẻ.

    - Tùy theo vùng, thầy thuốc sẽ chỉ định cắt bỏ hay chỉ hút mỡ.

    - Cắt bỏ u mỡ là một can thiệp nhỏ, đơn giản, thường chỉ cần gây tê tại chỗ, được chỉ định đối với những u mỡ có đường kính dưới 3 cm, những u mỡ ở sâu hoặc có lẫn nhiều thành phần xơ.

    - Hút mỡ được chỉ định với những u mỡ to ở những vùng dễ tiếp cận.

    - Sau khi cắt bỏ hay hút, u mỡ không tái phát nếu phẫu thuật viên đã lấy đi hết mô mỡ.

     


  • 9. Phẫu thuật u xơ tử cung
    -

    Thân chào cô giáo Đỗ Thị Hoa.

    Trước hết, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo đã tin tưởng bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi.

    Chị là giáo viên vùng cao, chắc chị sẽ có thẻ Bảo hiểm y tế, chị hãy làm giấy xin chuyển Bảo hiểm y tế từ nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, chuyển về bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt, 34 Đại Cồ Việt, phường Lê Đại Hành, Quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội chị nhé, vì bệnh viện chúng tôi đã áp dụng thanh toán bảo hiểm y tế cho bệnh nhân chị ạ.

    Còn khi chị vào viện phẫu thuật, sẽ có đầy đủ giấy ra viện, giấy ra viện, sao trích bệnh án (nếu cần) và các giấy tờ liên quan (giấy nghỉ hưởng Bảo hiểm xã hội...) để chị được hưởng đầy đủ các chế độ.

    Bệnh viện chúng tôi sẽ gọi điện tư vấn trực tiếp cho chị về việc chuyển Bảo hiểm y tế và các thủ tục cần thiết.

    Chúc chị luôn mạnh khỏe và luôn là cô giáo dạy giỏi.

    Thân ái,


  • 10. u vú
    -

    Bạn Hạnh thân mến.

    Bạn đã phẫu thuật u xơ tuyến vú 2 bên và nay lại thấy có mụn thịt và ngứa ở đầu vú, đã khám và chưa phát hiện  bệnh; chúng tôi cũngkhông biết bạn đã dùng thuốc gì khi ngứa ở vùng vú hay không?

    Chúng tôi khuyên bạn hãy đến khám tại bệnh viện chúng tôi,  bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt sẽ lập hồ sơ quản lý sức khỏe cho bạn; Còn việc xác  định còn khối u ở vú hay không, sau khi bác sỹ khám  bệnh, sẽ cho bạn làm các xét nghiệm cần thiết như siêu âm tuyến vú, chụp X-Quang tuyến vú, xét nghiệm Marker chẩn đoán ung thư vú và nếu cần sẽ chọc hút để xét nghiệm; ..

    Bạn hãy sắp xếp thời gian và  đến kiểm tra nhé.

    Thân ái