Thứ bảy, 19/04/2014 17:15
Sác-côm cơ vân trẻ em các lựa chọn điều trị tia phóng xạ

Các lựa chọn điều trị chuẩn:
Xạ trị là một phương pháp điều trị hiệu quả để kiểm soát tại chỗ khối u cho bệnh nhân sác-côm cơ vân còn sót lại trên vi thể hoặc đại thể sau phẫu thuật hoặc hóa trị liệu ban đầu. Bệnh nhân có u dạng bào thai có thể phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn được (nhóm lâm sàng I) thì không cần chiếu xạ, nhưng chiếu xạ có lợi cho những bệnh nhân thuộc nhóm lâm sàng I có u tế bào dạng nang hoặc không biệt hóa. Cũng như đối với phẫu thuật, việc chi định điều trị bảng tia phóng xạ cho bệnh nhân sác-côm cơ vân phụ thuộc vào vị trí của khối u nguyên phát và phạm vi của bệnh sau phẫu thuật.

Để có sự chăm sóc tối ưu cho những bệnh nhi đang được điều trị bầng tia xạ cần phải có bác sĩ tia xạ ung thư, kỹ thuật viên chiếu tia và y tá có kinh nghiệm trong điều trị cho trẻ em. Các cơ sở điều trị nên trang bị máy gia tốc thẳng và các phương tiện có khả năng thực hiện liệu pháp bằng chùm electron. Cân có kế hoạch điều trị được vi tính hóa, tốt nhất là với hệ thống lập phác đồ ba chiều. Nên tính đến các kỹ thuật chiếu xạ chính thức (ví dụ như chiếu xạ điều biến cường độ, chiếu xạ proton hoặc chiếu xạ khoảng kẽ/chiếu xạ trong khoang).

Liều lượng phóng xạ phụ thuộc chủ yếu vào phạm vi của bệnh sau phẫu thuật ban đầu. Nói chung bệnh nhân bị sác-côm cơ vân còn sót lại trên vi thể (nhóm lâm sàng I) được được điều trị với liều phóng xạ khoảng 4100 cGy, mặc dù liều từ 3000 đến 4000 cGy có thể là phù hợp đối với những bệnh nhân có đáp ứng tốt với đa hóa chất. Nhóm bệnh nhân IRS-II có khối u sót lại trên đại thể (nhóm lâm sàng III) khi được điều trị liều từ 4000 đến trên 5000 cGy có tỷ lệ tái phát bệnh tại chỗ hoặc vùng trên 30%; liều chiếu xạ cao hơn (>6000 cGy) gây ra các tác dụng phụ lâu dài không thể chấp nhận được. Bệnh nhân đang được điều trị theo IRS-IV chuẩn cần nhận liều chiếu khoảng 5000 cGy.

Khối lượng điều trị được quyết định tuỳ theo phạm vi của khối u tại thời điểm chẩn đoán trước khi tiến hành phẫu thuật và trước khi điều trị bầng hóa chất. Thông thường mép cắt phải cách rìa khối u 2cm và cần vét các hạch có dấu hiệu bị xâm lấn trên lâm sàng. Trong khi lượng phóng xạ điều trị có thể được điều chỉnh tuỳ theo chi dần về độ dung nạp của các mô lành, vùng u sót lại trên đại thể phải được nhận liều phóng xạ đù. Thời điểm chiếu xạ thường bát đầu sau khi điều trị bàng hóa chất được 2-3 tháng, ngoại trừ các trường hợp có khối u gần màng não và có bảng chứng của sự lan vào màng não thì thường được chiếu xạ ngay khi bệnh được chẩn đoán. Điều trị bằng tia xạ thường được thực hiện trong vòng 5 đến 6 tuần (ví dụ 180 cGy mỗi ngày trong vòng 28 ngày điều trị), trong thời gian này phải điều chỉnh liều hóa chất để tránh tác nhân gây nhạy cảm phóng xạ là dactinomycin.

Dưới đây là một số phác đồ điều trị tia phóng xạ cải tiến đối với các khối u nguyên phát đặc biệt cho các bệnh nhân IRS-IV:
- Đối với bệnh nhân có khối u ở hố mắt phải có các biện pháp để bảo vệ thuỷ tinh thể, giác mạc, tuyến lệ và giao thoa thần kinh thị giác.
- Bệnh nhân có khối u nguyên phát ở bàng quang/tuyến tiền liệt và có khối u lớn ở khung chậu gây tắc nghẽn đường ra của bàng quang sẽ được điều trị liều phóng xạ tuỳ theo kết quả thăm dò hình ảnh sau khi đã điều trị bàng hóa chất ban đầu.
- Bệnh nhân có khối u nguyên phát gần màng não đã lan tiếp vào nội sọ và/hoặc có bào mòn xương đáy sọ và/hoặc liệt dây thần kinh sọ não thì không cần phải chiếu xạ toàn não bộ. Nên chiếu xạ cho những bệnh nhân này vào vị trí của khối u nguyên phát và vượt ra ngoài mép khối u 2cm để bao gồm vùng màng não cận khối u nguyên phát và vào vùng u lan vào trong hộp sọ và cũng vượt ra ngoài rìa 2cm. Bệnh nhân có ung thư lan vào trong hộp sọ nên được bắt đầu chiếu xạ trong vòng 2 tuần sau khi chẩn đoán.
- Mặc dù hiếm khi xuất hiện, những bệnh nhi có tế bào khối u ở trong dịch não tuỷ, có dấu hiệu tổn thương màng não lan tỏa hoặc nhiều ổ di căn vào nhu mô não từ khối u nguyên phát ở xa thì sẽ được chiếu xạ toàn não bộ kèm theo hóa chất/tia xạ để điều trị khối u nguyên phát.
-Chiếu xạ cột sống có thể được tiến hành phối hợp với các phương pháp điều trị khác và với sự thận trọng của các nhà nghiên cứu/bác sỹ lâm sàng.

Các lựa chọn điêu trị đang được đánh giá lâm sàng:
Đối với bệnh nhân sác-côm cơ vân còn sót lại trên đại thể sau phẫu thuật ban đầu, nghiên cứu IRS-IV đangso sánh phương pháp chiếu xạ thường quy với phương pháp chiếu xạ chia nhỏ liều. Phương pháp chiếu xạ chia nhỏ liều cho phép đạt tổng liều phóng xạ vào khối u cao hơn mà không làm tăng độc tính đối với mô lành về sau và được sử dụng rộng rãi cho những bệnh nhân có khối u ở hệ thần kinh trung ương (đặc biệt là u tế bào thần kinh đệm thân não). Nhóm bệnh nhân IRS-IV được điều trị bằng phương pháp chiếu xạ chia nhỏ liều nhận tổng liều 5940 cGy (phân liều chiếu 110 cGy, chiếu hai lần mỗi ngày) và nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp chiếu xạ thường quy nhận tổng liều xạ 5040 cGy (một phân liều 180 cGy mỗi ngày).

Phương pháp chiếu xạ áp sát sử dụng nguyên liệu phóng xạ đặt vào trong khoang rỗng hoặc vào khoảng kẽ là một phương pháp kiểm soát khối u tại chỗ khác còn đang được nghiên cứu và đã được sử dụng để điều trị cho bệnh nhi bị sác-côm cơ vân, đặc biệt là những bệnh nhi có khối u nguyên phát ở âm đạo hoặc âm hộ. Trong một nghiên cứu nhỏ của một đơn vị duy nhất, phương pháp điều trị này cho tỳ lệ sống sót cao (85%) và duy trì được chức năng của âm đạo ở đa số bệnh nhân. Khối u ở các vị trí khác, đặc biệt là vùng đầu và CỔ cũng đã được điều trị bằng chiếu xạ áp sát. Bệnh nhân thuộc nhóm lâm sàng III có khối u còn sót lại trên vi thể sau khi điều trị bằng hóa chất có hoặc không kèm theo phẫu thuật về sau thì có thể kiểm soát được khối u tại chỗ với liều chiếu xạ 4000 cGy hoặc cao hơn.

Đặt câu hỏi tư vấn
Ý kiến của bạn