Thứ ba, 06/05/2014 16:00
Các yếu tố nguy cơ & tiên lượng của ung thư phần mềm

Tiên lượng của các bệnh nhân ung thư phần mềm người lớn phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm độ tuổi của bệnh nhân và kích thước, cấp độ theo mô học và giai đoạn của khối u. Tuổi trên 60, khối u trên 5cm, u có cấp độ theo mô học cao có tiên lượng tồi hơn. Các khối u có cấp độ theo mô học thấp thường có thể chữa khỏi bằng phẫu thuật đơn độc; bệnh nhân sác-côm ở cấp độ cao hơn (được xác định dựa trên chỉ số gián phân và hiện tượng xuất huyết và hoại tử) có tỷ lệ thất bại và khả năng di căn cao hơn nếu chỉ điều trị tại chỗ.

Các yếu tố nguy cơ & tiên lượng của ung thư phần mềmTrong chừng mực có thể, việc phẫu thuật cắt rộng đến mép mô lành nhưng bảo tồn được chức năng của bộ phận là mấu chốt để điều trị có hiệu quả. Phương pháp phẫu thuật Mohs có thể là một cách khác ngoài cách phẫu thuật cắt rộng ra mép khối u và được dành cho các sác-côm kích thước nhỏ và biệt hóa cao, khi yêu cầu về thẩm mỹ là quan trọng; vì phương pháp này đảm bảo mô lành có trong mép cắt là ít nhất. Sác-côm mô mềm (ung thư phần mềm) cấp độ cao ở chi có thể được điều trị hiệu quả mà vẫn bảo tồn được các chi bằng phương pháp điều trị kết hợp việc chiếu xạ trước hoặc sau khi phẫu thuật để giảm khả năng tái phát tại chỗ. Ở người lớn có thể kiểm soát tại chỗ sác-côm mô mềm cấp độ cao ở thân và vùng đầu cổ bằng phẫu thuật, thường kết hợp với chiếu xạ, có thể kèm theo hoặc không kèm theo hóa trị liệu. Để điều trị hiệu quả sác-côm sau phúc mạc cần phải cắt bỏ khối u trên đại thể trong khi đó vẫn phải giữ lại các cơ quan nội tạng kề cận chưa bị khối u xâm lấn. Tiên lượng của bệnh nhân sác-côm sau phúc mạc cấp độ cao tồi hơn so với các khối u như vậy ở những vị trí khác, một phần là do khó cắt bỏ được hoàn toàn những khối u này và hạn chế khi chiếu xạ với liều cao. Phẫu thuật là phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh nhân u mô đệm ống tiêu hóa. Đối với những bệnh nhân này các bằng chứng ban đầu cho thấy imatinib mesylate - một chất ức chế tyrosine kinase mới, có thể có tác dụng lên các khối u còn lại ở những bệnh nhân có khối u không thể cắt bỏ được hoặc đã di căn.

Một số thử nghiệm tiền cứu ngẫu nhiên không xác định được chắc chắn rằng liệu điều trị hóa chất bổ trợ bằng doxorubicin có hiệu quả với bệnh nhân sác-côm mô mềm đã được cắt bỏ hay không. Đa số các nghiên cứu này được tiến hành trên một số ít bệnh nhân nên không chứng minh được tác dụng của hóa trị liệu bổ trợ đối với thời gian sống thêm không có bệnh và thời gian sống thêm nói chung của bệnh nhân. Có một nghiên cứu nhỏ cho thấy hóa trị liệu bổ trợ sau phẫu thuật có thể có những tác dụng có lợi này. Có sự khác nhau lớn giữa các thử nghiệm, bao gồm sự khác nhau về chế độ điều trị, liều lượng thuốc, cỡ mẫu nghiên cứu, vị trí khối u và cấp độ khối u theo mô học. Phân tích về số lượng các dữ liệu thu được từ 1568 bệnh nhân trong 14 thử nghiệm dùng doxorubicin cho hóa trị liệu bổ trợ đã thấy rằng hiệu quả tuyệt đối của liệu pháp bổ trợ là tăng khoảng thời gian không bị tái phát bệnh tại chỗ lên 6% (khoảng tin cậy (CI) 95% là 1- 10), tăng khoảng thời gian không tái phát bệnh ở xa lên 10% (95% CI là 5-15) và tăng khoảng thời gian sống sót không bị tái phát bệnh lên 10% (95% CI là 5-15). Tuy nhiên, phương pháp điều trị này tỏ ra không tác động tới tỷ lệ sống sót nói chung sau 10 năm. Bệnh nhân có khối u cấp độ cao (độ 3 hoặc 4) với đường kính lớn hơn 5cm có khả năng di căn cao nhất và vì vậy nên tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu triển vọng của việc điều trị bằng hóa chất bổ trợ.

Với các di căn xa (giai đoạn IV), phẫu thuật nhằm chữa khỏi bệnh có thể thực hiện được cho một số bệnh nhân bị di căn phổi, những bệnh nhân như vậy có thể đã hoặc đang được thực hiện phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u nguyên phát (ví dụ, bệnh nhân có số lượng u di căn ít, khoảng thời gian sống thêm không có bệnh dài,và khối u phát triển chậm trên lâm sàng). Điều trị bằng doxorubicin đơn độc hoặc kết hợp với dacarbazin được coi là chế độ điều trị bằng hóa chất tốt nhất cho bệnh nhân sác-côm giai đoạn muộn. Một thử nghiệm ngẫu nhiên được tiến hành trên 340 bệnh nhân sác-côm giai đoạn muộn cho thấy bệnh nhân có tỷ lệ đáp ứng cao hơn (32% so với 17%, p<0,002) và khoảng thời gian tiến triển bệnh dài hơn (6 tháng so với 4 tháng, p<0,02) khi điều trị theo chế độ thuốc bao gồm doxorubicin, dacarbazin, ifosfamid và mesna (MAID) so với điều trị đơn độc bằng doxorubicin và dacarbazin. Mức tăng tỳ lệ đáp ứng của phác đồ MAID có thể bị thay đổi nếu điều trị trước mổ cho những bệnh nhân trẻ tuổi hơn và có khối u mà mép có thể cắt bỏ được, nhưng do tác dụng độc cao hơn nên không áp dụng phác đồ điều trị này với các bệnh nhân có tuổi. Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn thường khó thực hiện với bệnh nhân sác-côm sau phúc mạc do kích thước đã lớn trước khi phát hiện ra và vị trí giải phẫu của khối u. Các thử nghiệm lâm sàng tiến cứu ngẫu nhiên không đưa ra được kết luận chắc chắn về khả năng cải thiện thời gian sống sót khi điều trị bổ trợ bằng hóa chất trước hoặc sau phẫu thuật đối với nhóm bệnh nhân này.

Đặt câu hỏi tư vấn
Ý kiến của bạn