Thứ sáu, 02/05/2014 13:29
Tìm hiểu Ung thư buồng trứng

1. Ung thư buồng trứng là gì?

Ung thư buồng trứng là một trong những loại u thường gặp ở cơ quan sinh dục phụ nữ, tỷ lệ mắc bệnh chỉ thấp hơn ung thư cổ tử cung. Nhưng số bệnh nhân tử vong vì ung thư buồng trứng thì đứng đầu trong số các loại u phụ khoa.

2. Nguyên nhân gây ung thư buồng trứng

Yếu tố nội tiết và tiền căn thai sản
Có những mối liên hệ rõ ràng giữa yếu tố nội tiết và tiền căn thai sản với nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng như: 
+ Sinh đẻ ít và kinh thưa. Phụ nữ đã từng mang thai sẽ giảm nguy cơ ung thư buồng trứng xuống 2 lần.
+ Dùng thuốc kích thích rụng trứng, đặc biệt khi sử dụng kéo dài.
- Thuốc ngừa thai: nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc ngừa thai dạng uống có tác dụng bảo vệ đáng kể đối với carcinôm buồng trứng. Nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng ở những phụ nữ này chỉ bằng một nửa so với những phụ nữ không sử dụng, tác dụng bảo vệ này kéo dài nhiều năm sau khi ngưng sử dụng.

Ung thư buồng trứng

Chế độ dinh dưỡng: 
+ Chế độ ăn nhiều mỡ làm tăng khả năng mắc carcinôm buồng trứng: những người có chế độ ăn nhiều chất có lactose như sữa mà thiếu men galactose-1-phosphate uridyltransferase có tăng nguy cơ mắc carcinôm buồng trứng.
+ Vitamin A và C dường như có vai trò bảo vệ.

Yếu tố môi trường:
- Phụ nữ tiếp xúc với bột talc qua bao cao su hoặc giấy vệ sinh có tăng nguy cơ mắc bệnh carcinôm buồng trứng. Tỷ lệ carcinôm buồng trứng cao ở những người có tiền căn dùng phấn thơm ở vùng sinh dục hơn những người không sử dụng4.
- Chưa có bằng chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa virus và carcinôm buồng trứng, nhưng có nhiều nghiên cứu đã cho thấy ảnh hưởng của virus như cúm, rubella, quai bị đối với carcinôm buồng trứng.

Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Carcinôm buồng trứng có tính chất di truyền. Carcinôm buồng trứng di truyền thường xảy ra sớm hơn 10 năm so với carcinôm buồng trứng không có tính di truyền, tuy nhiên tiên lượng có vẻ tốt hơn. 
+ Hội chứng ung thư vú-buồng trứng gia đình thường ảnh hưởng tới liên quan phả hệ bậc 1 và 2. Ở những phụ nữ này, nguy cơ bị mắc ung thư buồng trứng tăng gấp 2 đến 4 lần so với cộng đồng. 
+ Hội chứng Lynch II: carcinôm tuyến ở nhiều cơ quan, hiện diện đồng thời ung thư ở đại tràng, buồng trứng, nội mạc tử cung, vú và những ung thư khác của đường sinh dục.
+ Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy người bị ung thư vú có tần suất bị ung thư buồng trứng cao gấp 2 lần người khác và ung thư buồng trứng có tần suất bị ung thư vú cao gấp 3, 4 lần.

3. Triệu chứng thường thấy ung thư buồng trứng

- Giai đoạn đầu có hiện tượng vùng bụng dưới khó chịu hoặc đau âm ỉ ở một bên.
- Khối u phát triển rất nhanh trong thời gian ngắn sẽ gây ra hiện tượng trướng bụng, có khối u vùng bụng và báng bụng.

- Hiện tượng chèn ép, khi khối u xâm lấn vào những cơ quan bình thường xung quanh hoặc chèn ép dây thần kinh sẽ gây ra đau bụng, lưng hoặc đau thần kinh toạ, nếu khối u chèn ép vào tĩnh mạch xương chậu có thể xuất hiện hiện tượng phù chân. Khối u to sẽ chèn ép đến bàng quang, gây tiểu nhiều, tiểu dắt, tiểu buốt; chèn ép trực tràng gây ra đại tiện khó; chèn ép dạ dày có thể gây hiện tượng về đường tiêu hoá; chèn ép cơ hoành sẽ gây ra thở khó, không thể nằm thẳng.

- Do khối u phát triển nhanh, nên sẽ dẫn đến hấp thụ dinh dưỡng kém, giảm cân nhanh, suy nhược cơ thể.
- Do ung thư di căn nên xuất hiện những hiện tượng tương ứng, ung thư buồng trứng hiếm khi gây đau, ví dụ trong trường hợp khối u vỡ, chảy máu, nhiễm trùng hoặc do sự xâm lấn, chèn ép cơ quan lân cận thì mới gây ra đau bụng, đau lưng. 

- Nếu cả hai bên buồng trứng đều bị ung thư sẽ gây ra mất hoặc rối loạn kinh nguyệt; di căn phổi sẽ gây ra ho nhiều, ho ra đờm lẫn máu, tràn dịch phổi; di căn xương gây ra vùng bệnh bị di căn đau đớn. Di căn đường ruột có thể khiến đi ngoài ra máu, nghiêm trọng hơn có thể gây ra tắc ruột.

- Nếu là khối u chức năng thì sẽ gây ra những hiện tượng tương ứng như khi sản xuất quá nhiều estrogen hoặc androgen. Ví dụ như: gây ra mất đi khả năng khống chế chảy máu tử cung, chảy máu âm đạo sau mãn kinh hoặc có dấu hiệu nam tính hoá. Bệnh nhân ung thư buồng trứng giai đoạn cuối thường có hiện tượng giảm cân đáng kể, thiếu máu nặng, suy nhược. Khi khám phụ khoa có thể phát hiện sau âm đạo có nốt cứng rải rác, thường có tính song phương, thực chất, bề mặt lồi lõm không bằng phẳng, cố định không di chuyển, thông thường có hiện tượng báng bụng huyết tính. Đôi khi sờ thấy hạch bạch huyết lan rộng trong nách, háng, xương đòn.

4. Chẩn đoán ung thư buồng trứng

- Chẩn đoán giai đoạn đầu
Do ung thư buồng trứng giai đoạn đầu không có biểu hiện và triệu chứng rõ ràng, vì vậy nếu gặp trường hợp thấy nghi ngờ cần phải đi kiểm tra hình ảnh và kiểm tra chỉ điểm khối u để phát hiện được sớm. Những triệu chứng nghi ngờ bao gồm: rối loạn chức năng buồng trứng trong thời gian dài, những thay đổi không thể giải thích trong thói quen về tiêu hóa hoặc tiết niệu, buồng trứng con gái to lên hoặc sau khi mãn kinh, và các khối u buồng trứng to lên nhanh cứng, là khối u cứng...

- Chẩn đoán định vị:
Ở giai đoạn đầu có thể kiểm tra bằng hình ảnh tổng hợp, chẩn đoán định vị. Nhưng có một số khối u nguyên phát khi còn nhỏ đã di căn ra vị trí khác ngoài buồng trứng hơn nữa hình thành những hạch bạch huyết vùng hố chậu, vào thời điểm này có thể lựa chọn những phương pháp kiểm tra bổ trợ, không nên chỉ đơn thuần kiểm tra sơ qua mà kéo dài ảnh hưởng tới việc điều trị bệnh.

- Chẩn đoán định tính
Tuy rằng kĩ thuật để chẩn đoán ung thư buồng trứng ngày càng mới và nhanh chóng, nhưng những phương pháp kiểm tra như phiến đồ tế bào học tử cung, kiểm tra bằng dùng mỏ vịt,và kiểm tra tế bào học dịch ổ bụng vẫn là những phương pháp đơn giản, dễ dàng tiến hành, và nhanh chóng. Đối với trường hợp nghi ngờ ung thư buồng trứng, kiểm tra nội soi ổ bụng và kiểm tra mô học có thể ngay lập tức đưa ra chẩn đoán. Kiểm tra nội tiết có khả năng giúp phát hiện bất thường ở u mô đệm sinh dục và về nội tiết. Xét nghiệm chỉ điểm khối u huyết thanh có tính mẫn cảm cao đối với khối u buồng trứng ác tính, vì vậy không thể chỉ dựa vào một xét nghiệm mà phán đoán. Trong những phương pháp kiểm tra trên thì xét nghiệm chỉ điểm khối u có tính chính xác cao trong chẩn đoán bệnh ung thư buồng trứng.

5. Phương pháp điều trị

- Phẫu thuật: 
Phẫu thuật sẽ là biện pháp điều trị được lựa chọn đầu tiên, nhưng chỉ phẫu thuật không sẽ không thể loại trừ hết những mầm mống bệnh có sẵn trong cơ thể, do vậy mà sau khi phẫu thuật vẫn xuất hiện tái phát và di căn.

- Xạ trị: 
Xạ trị sau phẫu thuật chủ yếu có tác dụng tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong ổ bụng, khung chậu; trường hợp không có dính ổ bụng, mà vẫn còn lượng nhỏ tế bào ung thư còn sót lại thì sau phẫu thuật 7--14 ngày có thể tiến hành xạ trị.

- Hóa trị:
Hóa trị liệu là liệu pháp bổ trợ chủ yếu cho điều trị ung thư buồng trứng. Nhiều trường hợp bệnh nhân cần hóa trị 1--2 lần trước rồi mới phẫu thuật để đạt hiệu quả phẫu thuật tốt nhất. Hóa trị sau phẫu thuật có thể phòng chống tái phát; đối với bệnh nhân đã phẫu thuật mà không triệt để thì tiến hành hóa trị có thể kéo dài sự sống; đối với trường hợp không thể phẫu thuật thì tiến hành hóa trị liệu sẽ khiến khối u bị thu nhỏ, tạo cơ hội được phẫu thuật cho bệnh nhân.

- Phương pháp điều trị Đông Tây y kết hợp
Điều trị ung thư buồng trứng bằng thuốc Đông y, đầu tiên cần điều chỉnh từ trong nội tiết của cơ thể, làm cho thông máu hoạt huyết. Đối với nữ giới khi các phủ tạng bị rối loạn chức năng, khí huyết không lưu thông, sẽ ảnh hưởng lớn tới chức năng của hệ thống máu trong cơ thể, điều này dễ dẫn đến phát sinh các bệnh phụ khoa.

- Phương pháp điều trị miễn dịch tế bào: 
Sau nhiều năm nghiên cứu và tổng kết lâm sàng, y học thế giới đã đưa ra một phương pháp đặc biệt điều trị ung thư buồng trứng--đó là biện pháp miễn dịch sinh học, biện pháp này là biện pháp điều trị dựa vào chính những tế bào miễn dịch có khả năng nhận biết và tiêu diệt tế bào ung thư trong cơ thể. Đây chính là nguyên lý " dùng tế bào miễn dịch tự thân để trị bệnh cho chính cơ thể mình"

6. Các yếu tố nguy cơ cho ung thư cổ tử cung.
Sinh hoạt tình dục quá sớm hoặc với nhiều người có thể tạo cơ hội cho việc hình thành virút tuy nhien có rất nhiều phụ nữ chỉ quan hệ với một người có HPV và có thể dẫn đến phát triển CIN hoặc ung thư cổ tử cung. Do đó không có lý do gì khiến bạn hoặc những người khác cảm thấy đáng trách khi mắc bệnh ung thư cổ tử cung.
Một hệ thống miễn dịch kém cũng có thể tạo điều kiện cho CIN phát triển thành ung thư. Hệ thống miễn dịch có thể bị suy giảm khi hút thuốc, ăn kiêng và các bệnh lan truyền khác như HIV.
Độ tuổi dễ mắc ung thư buồng trứng là 50, bệnh nhân thường là phụ nữ cao tuổi, độ tuổi của bệnh nhân càng cao thì tỷ lệ tử vong do ung thư buồng trứng càng cao.

Đặt câu hỏi tư vấn
Ý kiến của bạn
<!-- Google Tag Manager (noscript) --> <noscript><iframe src="https://www.googletagmanager.com/ns.html?id=GTM-WDKJR7G" height="0" width="0" style="display:none;visibility:hidden"></iframe></noscript> <!-- End Google Tag Manager (noscript) -->