vì sao chụp não bình thường mà đầu vẫn đau
“Chụp CT, MRI đều bình thường mà đầu vẫn đau? Bạn không hề tưởng tượng ra cơn đau ấy.” Bạn đã từng trải qua tình huống này chưa?
Đau đầu kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.
Nhưng kết quả đều được trả lời: “Không phát hiện bất thường đáng kể.”
Vậy một câu hỏi rất tự nhiên xuất hiện: “Nếu não không có vấn đề, xoang cũng bình thường, tại sao tôi vẫn đau đầu?”
Câu trả lời là: Một người hoàn toàn có thể bị đau đầu rất thật, rất dữ dội dù CT hoặc MRI không cho thấy một tổn thương cấu trúc rõ ràng.
Một trong những nguyên nhân thường gặp là migraine – thường được gọi theo cách cũ là “đau đầu vận mạch” hay “đau đầu do vận mạch”. Migraine là một rối loạn thần kinh thực sự, không phải cơn đau do “nghĩ nhiều”, càng không phải do người bệnh tưởng tượng ra. Điều quan trọng là phải chẩn đoán đúng loại đau đầu, thay vì tiếp tục chụp đi chụp lại nhiều lần mà chưa có một kế hoạch điều trị phù hợp.
“Đau đầu vận mạch” là cách gọi cũ thường được dùng để mô tả migraine, hay đau nửa đầu.
Ngày nay, chúng ta hiểu migraine phức tạp hơn rất nhiều so với cách giải thích đơn giản rằng:
“Mạch máu não co lại rồi giãn ra nên gây đau.”
Migraine liên quan đến sự hoạt hóa bất thường của hệ thống thần kinh sinh ba – mạch máu, sự nhạy cảm của các đường dẫn truyền đau và nhiều chất trung gian thần kinh, trong đó có CGRP.
Nói một cách dễ hiểu:
Migraine là một bệnh của hệ thần kinh và hệ thống xử lý đau, không đơn thuần là bệnh của mạch máu.
Chính vì vậy, việc chụp CT hoặc MRI bình thường không phủ nhận chẩn đoán migraine.
Khi một người được thông báo “đau đầu vận mạch”, thay vì chỉ chấp nhận một cái tên chung chung, tôi thường khuyên người bệnh hỏi bác sĩ rõ hơn:
Chẩn đoán càng cụ thể, kế hoạch điều trị càng có cơ sở.
Đây là điểm khiến rất nhiều người bệnh băn khoăn.
CT và MRI sọ não chủ yếu giúp phát hiện những bất thường về cấu trúc như:
Trong khi đó, migraine chủ yếu liên quan đến cách hệ thần kinh và mạng lưới xử lý đau hoạt động.
Nó không nhất thiết tạo ra một khối u, một ổ xuất huyết hay một tổn thương cấu trúc mà máy chụp có thể nhìn thấy.
Vì vậy, có 4 điều cần nhớ:
Một người có thể có migraine dù CT hoặc MRI hoàn toàn không phát hiện tổn thương cấu trúc.
Không tìm thấy tổn thương trên phim không đồng nghĩa với “không có bệnh”.
Nó giúp bác sĩ giảm khả năng một số nguyên nhân cấu trúc nguy hiểm, trong bối cảnh lâm sàng phù hợp.
Theo American Headache Society, ở người có biểu hiện phù hợp migraine, khám thần kinh bình thường và không có dấu hiệu cảnh báo, chụp hình ảnh não thường quy không được chỉ định. Chẩn đoán migraine chủ yếu dựa vào bệnh sử, đặc điểm cơn đau và thăm khám.
Điều này rất quan trọng. Bởi đôi khi người bệnh nghĩ: “Lần trước chụp bình thường, nhưng tôi vẫn đau. Có lẽ phải chụp lại.”
Trong khi điều họ thực sự cần lại là: một chẩn đoán đau đầu chính xác và một kế hoạch điều trị phù hợp.
Migraine không phải lúc nào cũng biểu hiện giống nhau ở tất cả mọi người.
Theo tiêu chuẩn ICHD-3, một cơn migraine điển hình có thể kéo dài 4–72 giờ nếu không được điều trị hiệu quả. Cơn đau thường có ít nhất hai đặc điểm: đau một bên, đau theo kiểu đập theo nhịp, mức độ vừa đến nặng hoặc tăng khi hoạt động thể lực thông thường. Đồng thời thường có buồn nôn/nôn hoặc sợ ánh sáng và sợ tiếng động.
Người bệnh có thể mô tả:
Một số người còn có:
Nhưng có một điều tôi muốn nhấn mạnh:
Đây chính là lý do migraine đôi khi bị nhầm với bệnh xoang.
Đây là tình huống tôi gặp khá nhiều.
Người bệnh nói:
“Tôi đau vùng trán, nặng mặt, nghẹt mũi, chảy nước mắt. Chắc chắn là viêm xoang.”
Nhưng nếu nội soi và hình ảnh xoang không cho thấy bằng chứng viêm xoang phù hợp, chúng ta cần nghĩ đến migraine.
Một nghiên cứu lớn được tài liệu cung cấp đề cập trên gần 3.000 người từng được cho là “đau đầu do xoang”, trong đó 88% có kiểu đau phù hợp với migraine hoặc có khả năng là migraine.
Điều đó không có nghĩa cứ đau đầu là migraine.
Mà có nghĩa:
Nghẹt mũi, nặng mặt hoặc chảy nước mắt không tự động chứng minh bạn bị viêm xoang.
Đặc biệt, nếu không có các dấu hiệu phù hợp của viêm xoang như sốt, dịch mũi mủ hoặc bằng chứng viêm trên thăm khám/hình ảnh, cần đánh giá lại nguyên nhân đau đầu.
Vì vậy, nếu bạn đã nhiều lần điều trị “viêm xoang” nhưng:
nội soi không bất thường,
chụp xoang không có bằng chứng viêm rõ ràng,
nhưng đau đầu vẫn tái diễn,
hãy trao đổi với bác sĩ về khả năng migraine hoặc một loại đau đầu nguyên phát khác.
Migraine thường không có một nguyên nhân duy nhất.
Một số người có cơ địa thần kinh nhạy cảm và dễ bị kích hoạt cơn đau khi cơ thể hoặc môi trường thay đổi.
Các yếu tố thường gặp gồm:
Nhưng hãy nhớ:
Trigger không phải lúc nào cũng là nguyên nhân gốc của migraine.
Ví dụ, bạn có thể nhận thấy mình đau đầu sau khi bỏ bữa.
Điều đó không có nghĩa “bỏ bữa gây ra bệnh migraine”.
Nó có thể chỉ là yếu tố kích hoạt một cơn đau ở người vốn có cơ địa migraine.
Vì vậy, tôi không khuyến khích người bệnh tự ý loại bỏ hàng loạt thực phẩm như chocolate, phô mai, sữa hay các món ăn quen thuộc chỉ vì đọc thấy chúng “có thể gây migraine”.
Nếu chưa có bằng chứng lặp lại rõ ràng trong chính cơ thể bạn, kiêng khem quá mức có thể dẫn tới bỏ bữa, thiếu năng lượng và đôi khi còn khiến đau đầu dễ xuất hiện hơn.
Điều trị migraine không chỉ nằm ở thuốc.
Một nhịp sinh hoạt ổn định có thể giúp giảm những yếu tố kích hoạt cơn ở nhiều người.
Ngủ và thức dậy tương đối đúng giờ.
Không “ngủ bù” quá nhiều vào cuối tuần.
Ăn đủ bữa.
Đừng để cơ thể rơi vào tình trạng đói kéo dài.
Uống đủ nước.
Hạn chế rượu bia.
Nếu sử dụng cà phê, cố gắng duy trì lượng tương đối ổn định thay vì uống rất nhiều rồi đột ngột ngừng.
Vận động đều đặn.
Nếu sức khỏe cho phép, có thể hướng tới khoảng 150 phút hoạt động thể lực mức độ vừa mỗi tuần và tăng dần theo khả năng.
Giảm căng thẳng.
Thiền, tập thở, thư giãn hoặc điều chỉnh khối lượng công việc có thể hữu ích với một số người.
Điều trị mất ngủ hoặc lo âu nếu có.
Giảm chói và nghỉ mắt hợp lý khi phải làm việc lâu với màn hình.
Một công cụ đặc biệt hữu ích là:
Hãy ghi trong khoảng 4–8 tuần:
Khi đi khám, một cuốn nhật ký đau đầu đôi khi giá trị hơn rất nhiều so với việc cố nhớ lại những gì đã xảy ra trong vài tháng qua.
Nếu cơn đau đã được xác định là migraine và không có dấu hiệu cảnh báo, bạn có thể:
Và nếu bác sĩ đã xây dựng kế hoạch điều trị, dùng thuốc cắt cơn sớm khi cơn còn nhẹ thường có lợi hơn việc chờ đến khi cơn đau trở nên rất dữ dội.
Tùy từng người, bác sĩ có thể cân nhắc các nhóm thuốc như:
AHS hiện có hướng dẫn riêng về điều trị cắt cơn migraine và tiếp tục cập nhật các lựa chọn điều trị đặc hiệu.
Tuy nhiên, đừng tự lấy đơn thuốc của người khác để uống.
Ví dụ, thuốc chống viêm có thể không phù hợp với người có bệnh thận, loét dạ dày, nguy cơ chảy máu hoặc đang dùng thuốc chống đông.
Triptan cũng cần được bác sĩ cân nhắc ở một số người có bệnh tim mạch, tiền sử đột quỵ hoặc tăng huyết áp chưa kiểm soát.
Đặc biệt:
Opioid không phải lựa chọn điều trị thường quy cho migraine.
Đây là một vòng xoắn mà rất nhiều người không nhận ra:
Đau đầu → uống thuốc → đỡ → đau lại → tiếp tục uống thuốc → số ngày dùng thuốc tăng → đau đầu ngày càng thường xuyên.
Đó có thể là đau đầu do lạm dụng thuốc.
Theo AHS, tình trạng này cần được nghĩ đến khi người bệnh migraine sử dụng triptan, opioid hoặc thuốc giảm đau phối hợp từ 10 ngày/tháng trở lên, hoặc acetaminophen/NSAID từ 15 ngày/tháng trở lên.
Vì vậy, nếu bạn nhận thấy:
“Tôi gần như ngày nào cũng phải uống thuốc giảm đau mới chịu được.”
đừng chỉ tiếp tục tăng thuốc.
Đó là lúc cần được đánh giá lại toàn bộ chiến lược điều trị.
Thuốc dự phòng không phải thuốc uống vào để cắt ngay một cơn đau.
Mục tiêu của điều trị dự phòng là:
Theo hướng dẫn AHS/AAN được cập nhật năm 2026, điều trị dự phòng có thể được cân nhắc ở người có từ 4 ngày migraine mỗi tháng, từ 4 ngày đau đầu mức độ vừa đến nặng mỗi tháng, hoặc khi migraine ảnh hưởng đáng kể đến công việc và các hoạt động hằng ngày.
Các lựa chọn điều trị hiện nay rất đa dạng.
Có thể gồm:
Đáng chú ý, AHS cập nhật năm 2025 cho biết các liệu pháp nhắm đích CGRP đã được đưa vào nhóm lựa chọn hàng đầu trong điều trị dự phòng migraine, thay vì chỉ xem là phương án cuối cùng.
Tuy nhiên, không có một loại thuốc dự phòng tốt nhất cho tất cả mọi người.
Bác sĩ cần cân nhắc tuổi, huyết áp, cân nặng, bệnh lý đi kèm, kế hoạch mang thai, tác dụng phụ, khả năng tiếp cận và chi phí.
Đặc biệt, phụ nữ đang mang thai hoặc có kế hoạch mang thai cần thông báo rõ với bác sĩ trước khi sử dụng thuốc dự phòng. Một số thuốc, trong đó có topiramate và valproate, có những nguy cơ quan trọng đối với thai kỳ.
Đây là phần không được bỏ qua, kể cả khi trước đó bạn từng chụp CT hoặc MRI bình thường.
Hãy đi khám cấp cứu hoặc được đánh giá y tế sớm nếu đau đầu:
Đột ngột bùng phát dữ dội như “sét đánh”, đạt mức nghiêm trọng nhất chỉ trong vài giây đến một phút.
Hoặc kèm:
Ngoài ra, cần đặc biệt lưu ý:
Một phim chụp bình thường ở một thời điểm trước đó không có nghĩa mọi cơn đau đầu xuất hiện về sau đều chắc chắn là migraine.
Nếu đặc điểm cơn đau thay đổi, người bệnh cần được đánh giá lại.
Không phải lúc nào cũng cần.
Nếu người bệnh có kiểu đau phù hợp migraine, khám thần kinh bình thường và không có dấu hiệu cảnh báo, việc lặp lại CT hoặc MRI thường không phải giải pháp đầu tiên. AHS nhấn mạnh rằng chẩn đoán migraine chủ yếu dựa trên bệnh sử và thăm khám; hình ảnh học không được chỉ định thường quy trong nhóm người bệnh này.
Điều đó không có nghĩa: “Đã chụp một lần thì cả đời không cần chụp lại.”
Nếu xuất hiện một kiểu đau mới, mức độ đau thay đổi, có triệu chứng thần kinh hoặc xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo, bác sĩ có thể chỉ định đánh giá hình ảnh lại tùy trường hợp.
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải là: “Tôi đã chụp MRI chưa?”
Mà là: “Kiểu đau đầu của tôi có thay đổi không? Có dấu hiệu cảnh báo không? Và chẩn đoán hiện tại đã chính xác chưa?”
Nếu bạn đã nhiều lần:
nhưng đầu vẫn đau, đừng vội kết luận:
“Không tìm thấy bệnh nghĩa là tôi phải sống chung với nó.”
Đau đầu có thể là một bệnh lý thần kinh thực sự ngay cả khi hình ảnh não bình thường.
Điều quan trọng là xác định đúng loại đau đầu.
Nếu là migraine, người bệnh có thể được xây dựng một kế hoạch gồm:
Điều chỉnh lối sống → ghi nhật ký đau đầu → thuốc cắt cơn → tránh lạm dụng thuốc → điều trị dự phòng khi cần → theo dõi đáp ứng.
Mục tiêu không nhất thiết phải là:
“Từ nay không bao giờ đau đầu nữa.”
Mục tiêu thực tế hơn là:
Giảm số ngày đau.
Giảm mức độ đau.
Giảm nhu cầu dùng thuốc.
Lấy lại giấc ngủ, công việc và cuộc sống bình thường.
Và quan trọng nhất:
Biết khi nào một cơn đau là migraine quen thuộc và khi nào đó là một cơn đau cần được đánh giá lại.
Nếu bạn đang ở trong tình trạng:
“Tôi đau đầu nhiều năm nhưng tất cả phim chụp đều bình thường.”
Tôi muốn bạn biết rằng:
Kết quả chụp bình thường không có nghĩa cơn đau của bạn là tưởng tượng.
Bạn không cần phải âm thầm chịu đựng.
Bạn cũng không nhất thiết phải tiếp tục chụp hết xét nghiệm này đến xét nghiệm khác nếu không có chỉ định.
Điều cần thiết có thể là một lần đánh giá chuyên sâu về đau đầu, xác định bạn đang mắc migraine, đau đầu căng thẳng, đau đầu từng cụm, đau đầu do lạm dụng thuốc hay một nguyên nhân khác.
Bởi đôi khi, sau rất nhiều lần đi tìm “một tổn thương trên phim”, điều người bệnh thực sự cần lại là: một chẩn đoán chính xác, một kế hoạch điều trị đúng và một người bác sĩ đủ thời gian để lắng nghe toàn bộ câu chuyện về cơn đau của mình.
Chụp não bình thường ≠ không có bệnh.
Migraine ≠ “đau đầu tưởng tượng”.
Đau đầu vận mạch ≠ chỉ đơn giản là mạch máu co giãn.
Nghẹt mũi ≠ chắc chắn là viêm xoang.
Uống thuốc giảm đau thường xuyên ≠ cách kiểm soát migraine lâu dài.
Và nếu cơn đau đầu đột ngột dữ dội, khác hẳn thường ngày hoặc kèm triệu chứng thần kinh, đừng tự kết luận đó là migraine chỉ vì những lần chụp trước đây từng bình thường.
Nhân kỷ niệm ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 và hưởng ứng tháng hành động…
Ngày 30/7/2015 Ban lãnh đạo cùng CBNV Ngân Hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt đã…
Ngày 19/7/2015, Bệnh viện Ung bướu Hưng Việt phối hợp với Trung tâm Thông tin,…
Tiếp nối hoạt động thăm khám bệnh cho thương binh, bệnh binh...những người có công…
Đây là hoạt động “Uống nước nhớ nguồn" ý nghĩa, chăm sóc sức khỏe cộng…
Nằm trong chương trình tặng 200 suất khám phát hiện sớm ung thư của bệnh…
This website uses cookies.