Thứ sáu, 18/04/2014 00:03
Ung thư hạch - không hodgkin

Ung thư hạch không hodgkin1. Ung thư không Hodgkin là gì?

Ung thư hạch không hodgkin còn được gọi là U lymphô không Hodgkin. U lymphô không Hodgkin là một loại ung thư. U lymphô là một thuật ngữ chung chỉ các loại ung thư phát triển trong hệ bạch huyết. Bệnh Hodgkin là một loại u lymphô. Tất cả các loại u lymphô khác được gọi là u lymphô không Hodgkin. u lymphô chiếm 5% tổng số các trường hợp ung thư ở Mỹ. Hệ bạch huyết là một phần trong hệ thống miên dịch của cơ thể. Hệ thống này giúp cơ thể chống lại bệnh tật và nhiêm khuẩn. Hệ bạch huyết là một mạng lưới các ống nhở, giống như mạch máu, lan toả vào các mô trên toàn cơ thể. Mạch bạch huyết có chứa bạch huyết, một loại dịch dạng nước, không màu. Dịch này có chứa các tế bào chống nhiễm khuẩn, được gọi là tế bào lymphô. Dọc theo mạng lưới mạch bạch huyết này là các hạch bạch huyết. Các đám hạch bạch huyết nẳm ở nách, bẹn, cổ, ngực và ổ bụng. Các bộ phận khác của hệ bạch huyết là lách, tuyến ức, amiđan và tuỷ xương. Mô bạch huyết có thể tìm thấy ở những bộ phận khác trong cơ thể, bao gồm dạ dày, ruột và da.

Trong bệnh u lymphô không Hodgkin, tế bào trong hệ bạch huyết trở nên không bình thường. Chúng phân chia và phát triển không theo trật tự và không thể kiểm soát được hoặc những tế bào già không chết đi giống như các tê' bào bình thường. Bởi vì mô bạch huyết có mặt ở nhiều bộ phận của cơ thể, u lymphô không Hodgkin có thể bắt đầu ở bất kỳ bộ phận nào trong cơ thể. u lymphô không Hodgkin có thể xuất hiện ở một hạch đơn độc, ở một nhóm hạch hoặc ở một bộ phận khác. Loại ung thư này có thể lan sang hầu hết tất cả các bộ phận cơ thể, bao gồm gan, tuỷ xương và lách.

2. Các yếu tố nguy cơ của ung thư không Hodgkin là gì?

Bằng cách nghiên cứu các dạng ung thư trong cộng đồng, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ nhất định thường xuất hiện nhiều hơn ở những người bị u lymphô không Hodgkin. Tuy nhiên, hầu hết những người có các yếu tố nguy cơ này không bị u lymphô không Hodgkin và nhiều người bị bệnh lại không có yếu tố nguy cơ nào trong số đã được biết đến. Dưới đây là một số yếu tố nguy cơ liên quan tới bệnh này:

- Độ tuổi/Giới tính. Nguy cơ bị u lymphô không Hodgkin tăng lên theo tuổi và thường gặp ở nam giới hơn là ở nữ giới.
- Hệ thống miễn dịch bị suy yếu. u lymphô không Hodgkin thường gặp hơn ở những người bị suy giảm miễn dịch di truyền, các bệnh tự miễn hoặc HIV/AIDS và ở những người uống các loại thuốc ức chế miễn dịch sau khi ghép tạng.
- Virút. Virút HTLV-1 và virút Epstein-Barr là hai tác nhân nhiêm trùng làm tăng nguy cơ phát triển u lymphô không Hodgkin.
- Môi trường. Những người làm việc quá nhiều hoặc tiếp xúc với một số hóa chất nhất định, như thuốc trừ sâu, dung môi, phân hóa học, có nguy cơ phát triển u lymphô không Hodgkin cao hơn.

Những ai quan tâm tới u lymphô không Hodgkin nên thảo luận với bác sĩ về bệnh tật, triệu chứng cần theo dõi và lịch khám theo dõi phù hợp. Lời khuyên của bác sĩ sẽ dựa vào độ tuổi, tiền sử bệnh và các yếu tố khác.

3. Ung thư không Hodgkin được phát hiện như thế nào? Triệu chứng của ung thư không Hodgkin là gì?
Triệu chứng thường gặp nhất của u lymphô không Hodgkin là hiện tượng sưng to các hạch ở cổ, nách hoặc bẹn nhưng không đau.
Các triệu chứng khác có thể là:
- Sốt không rõ nguyên nhân
- Ra mồ hôi ban đêm
- Thường xuyên mệt mỏi
- Giảm cân không rõ nguyên nhân
- Ngứa ngoài da
- Các mảng đỏ ngoài da
Khi những triệu chứng như vậy xuất hiện, chúng không phải lúc nào cũng là do u lymphô không Hodgkin gây ra. Chúng có thể do các bệnh khác ít nghiêm trọng hơn gây ra như cảm cúm hay các hiện tượng nhiễm khuẩn khác. Chi có bác sĩ mới có thể đưa ra chẩn đoán. Khi bạn có những triệu chứng này, hãy đến gặp bác sĩ để bệnh sớm được chẩn đoán và điều trị. Không được đợi đến khi cảm thấy đau; u lymphô không Hodgkin giai đoạn sớm không gây ra đau đớn.

4. Ung thư không Hodgkin được chẩn đoán như thế nào?
Nếu nghi có u lymphô không Hodgkin, bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử bệnh nhân và tiến hành thăm khám. Việc thăm khám bao gồm sờ xem hạch ở cổ, nách hoặc bẹn có bị to lên không. Bên cạnh việc kiểm tra sức khỏe chung bác sĩ có thể tiến hành xét nghiệm máu. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu làm thêm các thăm dò khác để làm hiện hình các bộ phận trong cơ thể. Những thăm dò này có thể bao gồm:
- Chụp X quang: Hiện hình các bộ phận trong cơ thể bâng tia X có năng lượng cao.
- Chụp cắt lớp vi tính: Chụp hàng loạt phim chi tiết các bộ phận trong cơ thể bâng một máy chụp X quang nối với một máy vi tính.
- Chụp cộng hưởng từ hạt nhân: Phim chụp chi tiết các bộ phận trong cơ thể bảng một trường nam châm mạnh nối với một máy vi tính.
- Chụp bạch mạch: Chụp X quang hệ bạch huyết sau khi tiêm một loại chất màu đặc biệt để làm hiện hình các hạch và mạch bạch huyết.

Bác sĩ sẽ tiến hành sinh thiết để chẩn đoán, tức là cát một mẫu mô để bác sĩ giải phẫu bệnh có thể quan sát dưới kính hiển vi và phát hiện ra tế bào ung thư. Đối với u lymphô không Hodgkin người ta thường sinh thiết hạch để chẩn đoán, nhưng cũng có thể sinh thiết những vị trí khác. Đôi khi có thể phải tiến hành phẫu thuật mở bụng. Trong khi tiến hành phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật mở ổ bụng và cắt lấy một mảu mô để quan sát dưới kính hiển vi.

5. Ung thư hạch không Hodgkin được điều trị như thế nào?

Hóa trị liệu và xạ trị liệu là những phương pháp điều trị u lymphô không Hodgkin thông dụng nhất, mặc dù phương pháp ghép tuỷ xương, liệu pháp sinh học hoặc phẫu thuật thinh thoảng cũng được sử dụng. Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị liệu trong điều trị u lymphô không Hodgkin thường là phối hợp nhiều loại thuốc. Bệnh nhân có thể được điều trị hoặc chi bằng hóa chất hoặc phối hợp với tia phóng xạ. Hóa trị liệu thường được tiến hành theo chu kỳ: một đợt điều trị tiếp đến giai đoạn nghỉ phục hồi, sau đó đến một đợt điều trị khác và cứ tiếp tục như vậy. trâu hết các loại thuốc điều trị ung thư được tiêm vào tĩnh mạch; một số loại thuốc khác ở dạng uống. Hóa trị liệu là phương pháp điều trị toàn thân bởi vì thuốc đi vào mạch máu và đi tới kháp cơ thể. Bệnh nhân được điều trị bâng hóa chất thường là bệnh nhân ngoại trú (bệnh viện, phòng khám bác sĩ hoặc ở nhà). Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại thuốc điều trị và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân, họ có thể phải nằm viện trong một thời gian ngắn.

Tia xạ trị liệu là phương pháp sử dụng những tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Điều trị bẳng tia xạ có thể tiến hành đơn độc hoặc phối hợp với hóa trị liệu. Xạ trị là phương pháp điều trị tại chỗ; nó chỉ ảnh hưởng tới các tế bào ung thư ở vùng chiếu xạ. Tia phóng xạ điều trị u lymphô không Hodgkin do một máy bên ngoài cơ thể hướng vào một vùng nhất định của cơ thể. Không còn phóng xạ trong cơ thể khi kết thúc điều trị. Đôi khi bệnh nhân được điều trị bằng hóa chất và/hoặc tia phóng xạ để tiêu diệt tế bào ung thư không phát hiện ra nhưng có thể có mặt trong hệ thần kinh trung ương. Trong phương pháp điều trị này, được gọi là phương pháp điều trị dự phòng hệ thần kinh trung ương, bác sĩ tiêm thuốc điều trị ung thư trực tiếp vào dịch não tuỷ.

Ghép tuỷ xương (BMT) cũng có thể là một lựa chọn điều trị, đặc biệt là đối với bệnh nhân có u lymphô không Hodgkin tái phát. BMT cung cấp cho bệnh nhân những tế bào mầm khỏe mạnh (những tê'bào còn rất non sản xuất tế bào máu) để thay thế cho những tế bào đã bị tổn thương hay phá huỷ bằng hóa chất liều cao và/hoặc tia phóng xạ. Tuỷ xương khỏe mạnh có thể được một người khác cho hoặc là được lấy từ chính bệnh nhân rồi được xử lý để tiêu diệt tế bào ung thư, được bảo quản và sau đó được đưa trở lại bệnh nhân sau điều trị liều cao. Bệnh nhân cần được bảo vệ cẩn thận để tránh nhiễm khuẩn cho đến khi tuỷ xương ghép bắt đầu sản xuất đủ bạch cầu. Bệnh nhân thường phải nảm viện trong vài tuần.

Liệu pháp sinh học (còn được gọi là liệupháp miễn dịch) là một dạng điều trị sử dụng hệ thống miễn dịch của cơ thể hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp để chống lại ung thư hoặc để làm giảm tác dụng phụ do điều trịung thư gây ra. Phương pháp này sử dụng các chất do cơ thể sản xuất ra hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm để thúc đẩy, điều khiển hoặc để phục hồi khả năng tự nhiên của cơ thể chống lại bệnh tật. Liệu pháp sinh học đôi khi còn được gọi là liệu pháp điều biến đáp ứng sinh học. Phẫu thuật có thể được tiến hành để cắt khối u. Mô xung quanh khối u và các hạch lân cận cũng có thể được vét bỏ trong khi phẫu thuật.

6. Tác dụng phụ của điều trị là gì?
Điều trị u lymphô không Hodgkin có tác dụng rất mạnh. Khó có thể hạn chế tác dụng của điều trị để chi loại bỏ hoặc phá huỷ tế bào ung thư. Bởi vì điều trị cũng phá huỷ mô và tế bào lành nên nó thường gây ra tác dụng phụ.
Tác dụng phụ của điều trị ung thư chủ yếu phụ thuộc vào loại và phạm vi điều trị. Tác dụng đối với mỗi bệnh nhân là khác nhau và chúng có thể thay đổi tuỳ theo từng phương pháp điều trị. Bác sĩ và y tá giải thích cho người bệnh về tác dụng phụ. Họ còn có thế làm giảm hoặc kiểm soát tác dụng phụ có thể xảy ra trong và sau khi điều trị.

Tác dụng phụ của hóa trị liệu là gì?
Hóa trị liệu chủ yếu phụ thuộc vào loại thuốc và liều lượng bệnh nhân sử dụng. Cũng giống như các phương pháp điều trị khác, tác dụng phụ ở từng bệnh nhân là khác nhau. Thuốc điều trị ung thư thường tác dụng lên các tế bào phân chia nhanh. Bên cạnh những tế bào ung thư, đó là những tế bào máu là những tế bào giúp cơ thể chống lại nhiễm khuẩn, làm đông máu hoặc vận chuyển ôxy tới tất cả các bộ phận của cơ thể. Khi tế bào máu bị ảnh hưởng, bệnh nhân dễ bị nhiễm khuẩn hơn, dễ bị bầm tím và chảy máu hơn và có thể thường cảm thấy rất mệt và yếu. Cần phải theo dõi sát số lượng tế bào máu của bệnh nhân trong khi điều trị bảng hóa chất và nếu cần, bác sĩ có thể quyết định hoãn điều trị để chờ số lượng tế bào máu hồi phục. Tế bào ở chân tóc cũng phân chia nhanh; vì vậy, hóa chất có thể gây rụng tóc.

Bệnh nhân có thể có các tác dụng phụ khác như chán ăn, buồn nôn và nôn, đau môi và đau miệng. Bệnh nhân còn có thể bị chóng mặt, xạm da và móng tay. Hầu hết các tác dụng phụ dần dần biến mất trong giai đoạn nghi hồi phục giữa các đợt điều trị hoặc sau khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, một số loại thuốc điều trị ung thư có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư thứ hai về sau. Ở một số bệnh nhân cả nam và nữ, hóa trị liệu có thể gây vô sinh. Tình trạng vô sinh có thể tạm thời hoặc vĩnh viên, tuỳ thuộc vào loại thuốc sử dụng và độ tuổi của bệnh nhân. Đối với nam giới lưu trữ tinh trùng bằng phương pháp lạnh trước khi điêu trị có thể là một lựa chọn. Chu kỳ kinh nguyệt ở nữ giới có thể dừng lại và họ có thể bị bốc hoả và khô âm đạo. Chu kỳ kinh nguyệt có thể trở lại ở những phụ nữ trẻ.

Tác dụng phụ của tia xạ trị liệu
Tác dụng phụ của xạ trị phụ thuộc vào liều lượng và bộ phận của cơ thể được chiếu xạ. Trong khi điều trị bằng tia phóng xạ, bệnh nhân có thể cực kỳ mệt mỏi, đặc biệt là các tuần cuối của các đợt điều trị. Nghỉ ngơi là rất quan trọng, nhưng bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gẳng hoạt động khi có thể. Bệnh nhân thường bị rụng lông tóc ở vùng chiếu xạ, còn da có thể bị tấy đỏ, khô, đau hoặc ngứa. Da vùng chiếu xạ cũng có thể bị đen xạm lại. Khi chiếu xạ vùng cổ hoặc vùng ngực, bệnh nhân có thể bị đau hoặc khô cổ và khó nuốt. Một số bệnh nhân có thể có cảm giác kim châm hoặc tê bì ở tay, chân và ở thát lưng.

Chiếu xạ ở vùng bụng có thể gây buồn nôn, nôn, ỉalỏng hay đái buốt. Thông thường, thay đổi chế độ ăn uống và thuốc có thể làm giảm những vấn đề này. Xạ trị có thể làm giảm số lượng bạch cầu là những tế bào bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm khuẩn. Nếu điều đó xảy ra, bệnh nhân cần phải thận trọng tránh các nguồn có thể gây nhiễm khuẩn. Bác sĩ theo dõi công thức máu của bệnh nhân trong thời gian chiếu xạ. Trong một số trường hợp, cần phải hoãn điều trị để cho số lượng tế bào máu hồi phục. Mặc dù tác dụng phụ của tia xạ có thể nghiêm trọng nhưng chúng thường có thể điều trị hoặc kiểm soát được. Cũng nên biết rằng, trong hầu hết các trường hợp tác dụng phụ không kéo dài vĩnh viễn. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể muốn thảo luận với bác sĩ về tác dụng lâu dài có thể của xạ trị đối với khả năng sinh con và nguy cơ mác ung thư thứ hai tăng lên sau khi kết thúc điều trị.

Tác dụng phụ của ghép tuỷ xương.
Bệnh nhân được ghép tuỷ xương có nguy cơ nhiễm khuẩn, chảy máu cao hơn và các tác dụng phụ khác do dùng hóa chất và tia phóng xạ liều cao. Bên cạnh đó, phản ứng mảnh ghép chống lại vật chủ có thể xảy ra ở những bệnh nhân nhận tuỷ từ một người khác. Khi xảy ra phản ứng, tuỷ xương của người cho sẽ tấn công các mô của bệnh nhân (thường gặp nhất là gan, da và ống tiêu hóa). Phản ứng thải mảnh ghép có thể ở nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng và nó có thểúc nào sau khi ghép (thậm chí vài năm sau đó). Bác sĩ có thể chi định thuốc để làm giảm nguy cơ thải mảnh ghép và xử lý và xảy ra bất kỳ để nếu xảy ra hiện tượng thải ghép.

Tác dụng phụ của liệu pháp sinh học
Tác dụng phụ của liệu pháp sinh học khác nhau tuỳ theo từng loại điều trị cụ thể. Những cách điều trị này có thể gây ra các triệu chứng giống cảm cúm như rét run, sốt, đau cơ, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn và ỉa lỏng. Bệnh nhân có thể dễ bị chảy máu và thâm tím, phát ban ngoài da hoặc giữ nước. Những triệu chứng này có thể trầm trọng, nhưng chúng thường mất đi sau khi kết thúc điều trị.

Tác dụng phụ của phẫu thuật
Tác dụng phụ của phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí của khối u, kiểu phẫu thuật, tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân và các yếu tố khác. Mặc dù bệnh nhân thường cảm thấy đau trong vài ngày đầu sau khi phẫu thuật, nhưng có thể dùng thuốc giảm đau. Có thể trao đổi với bác sĩ hoặc y tá về các cách giảm đau. Bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi hoặc yếu trong một thời gian. Thời gian phục hồi sau phẫu thuật ở mỗi bệnh nhân là khác nhau.

7. Khám định kỳ theo dõi gồm những gì?

Bệnh nhân u lymphô không Hodgkin nên khám theo dõi định kỳ sau khi kết thúc điều trị. Theo dõi là một phần quan trọng trong phác đồ điều trị. Khám theo dõi định kỳ đảm bảo việc bệnh nhân được giám sát cẩn thận và bất kỳ thay đổi nào về sức khỏe cũng cần được thảo luận, ung thư mới hoặc ung thư tái phát có thể được phát hiện và điều trị sớm nhất. Giữa các đợt khám theo dõi định kỳ, bệnh nhân u lymphô không Hodgkin nên thông báo với bác sĩ tất cả những vấn đề vê sức khỏe mới xuất hiện.

Đặt câu hỏi tư vấn
Ý kiến của bạn