Thứ ba, 06/05/2014 18:33
Điều trị u vỏ tuyến thượng thận phẫu thuật

Khi có bằng chứng về sự sản xuất hoóc-môn steroid tự động thì bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật (phẫu thuật mở hoặc nội soi) để loại bỏ khối u và để điều chỉnh tình trạng dư thừa hoóc-môn steroid. Khi tình cờ phát hiện ra khối u và kích thước u còn nhỏ (<3 hoặc 4cm), đặc biệt là khi không có dấu hiệu thừa hoóc-môn thì có thể trì hoãn điều trị.

Điều trị ung thư vỏ thượng thận

Ở một số trường hợp, phẫu thuật nội soi có thể mất nhiều thời gian hơn (mặc dù thời gian phẫu thuật giảm xuống khi có kinh nghiệm), nhưng bệnh nhân ít bị đau sau phẫu thuật hơn và thời gian nằm viện ngắn hơn. Ví dụ, trong một báo cáo tóm tắt các nghiên cứu công bố gần đây, thời gian nằm viện trung bình dao động từ 1,5 đến 4 ngày (thời gian trung bình chung là 2,7 ngày) ở bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật nội soi so với 5,3 tới 10 ngày (thời gian trung bình chung là 7,4 ngày) ở bệnh nhân được phẫu thuật mở.

Phẫu thuật nội soi được tiến hành qua nhiều đường. Một nghiên cứu tiến hành trên 36 bệnh nhân có u vỏ tuyến thượng thận được phẫu thuật nội soi hoặc qua đường bên xuyên thành bụng hoặc qua phúc mạc từ phía sau lưng. Tất cả các khối u đều được cắt bỏ thành công bằng cả hai đường, trong đó có 8 khối u có kích thước > 6cm được cắt bỏ bằng đường bên xuyên thành bụng. Thời gian phẫu thuật của hai cách này là tương đương nhau và thời gian nằm viện trung bình cũng tương tự (2,2 ngày so với 1,5 ngày).

Do đó, phẫu thuật nội soi đang trở thành phương thức phẫu thuật chuẩn đối với bệnh nhân có u tuyến kích thước nhỏ (đường kính < 6cm). Các khối u tuyến và ung thư có kích thước lớn thường được cắt bỏ bằng phẫu thuật mở qua đường cạnh sườn hoặc qua ổ bụng mặc dù u tuyến có kích thước lớn cũng có thể được cắt bỏ bằng thủ thuật nội soi qua đường bên xuyên thành bụng.

U tuyến:
Hầu như tất cả bệnh nhân có u tuyến thượng thận đều được chữa khỏi bằng phẫu thuật. Nếu bệnh nhân có hội chứng Cushing thì thường có hiện tượng teo đét thứ phát các tế bào bài tiết hoóc-môn giải phóng corticotropin vùng dưới đồi, các tế bào tiết hoóc-môn hướng vỏ của tuyến yên, các tế bào vùng lưới và vùng bó không u của tuyến thượng thận; do vậy bệnh nhân sẽ được điều trị glucocorticoid thay thế trong vài tháng sau khi cắt khối u hoặc điều trị thay thế suốt đời sau khi cắt cả hai bên tuyến thượng thận để điều trị các nhân tuyến hai bên (bệnh nhân cắt cả hai tuyến thượng thận cũng được điều trị corticoid điều hòa muối-nước thay thế suốt đời). Các nguyên lý thay thế tương tự như đối với bệnh nhân bị bệnh Cushing được chữa bằng cách cắt u tuyến yên.

Bệnh nhân có u tiết aldosteron cũng gặp những vấn đề tương tự. Sau khi cắt bỏ khối u, hiện tượng giảm natri máu và tăng kali máu có thể xảy ra trong một thời gian ngắn và đây là dấu hiệu cho biết hệ thống renin-angiotensin- aldosteron đã bị ức chế từ trước. Các bệnh nhân này sẽ tuân thủ một chế độ ăn có nhiều muối kết hợp hoặc không kết hợp thuốc corticoid điều hòa muối-nước (ví dụ 0,05 đến 0,1 mg fludrocortison hàng ngày) trong vài tuần hoặc thậm chí vài tháng. Trái lại, không cần điều trị bổ sung cho bệnh nhân có u tiết androgen sau phẫu thuật trừ khi cả hai tuyến thượng thận bị cắt hoàn toàn.

Ung thư biểu mô:
Phẫu thuật không phải là biện pháp điều trị hiệu quả đối với bệnh nhân bị ung thư biểu mô tuyến thượng thận do bệnh thường sớm di căn trên vi thể; như vậy tác dụng về lâu dài còn xa vời. Tiên lượng ở nam giới và nữ giới, ở bệnh nhân có u lớn và u nhỏ, ở bệnh nhân có u chức năng và u không chức năng và ở bệnh nhân có triệu chứng trong thời gian ngắn hoặc dài đều xấu. Tuy nhiên, bệnh nhân đã có di căn xa trên lâm sàng hoặc trên phim X quang khi chẩn đoán có tiên lượng thời gian sống thêm không bằng một nửa thời gian sống thêm của bệnh nhân không có di căn.

Thường không cắt bỏ được toàn bộ khối u nhưng cố gắng cắt bỏ tối đa. Ngay cả khi bác sĩ phẫu thuật cho rằng toàn bộ khối u đã được cắt bỏ và không thấy dấu hiệu về khối u sót lại trên phim X quang hoặc qua định lượng hoóc-môn sau phẫu thuật nhưng đại đa số các trường hợp đều bị tái phát (có lẽ là do đã có di căn trên vi thể tại thời điểm phẫu thuật) ở gan,phổi hoặc các vị trí khác sau vài tháng.

Thời gian sống sót trung bình sau chẩn đoán ở bệnh nhân trưởng thành bị ung thư biểu mô tuyến thượng thận đã điều trị bằng phẫu thuật và hóa chất dao động từ 14,5 tháng tới 36 tháng; nếu không điều trị, thời gian sống sót trungbình chỉ là ba tháng, u ở trẻ em phần nào ít xâm lấn hơn và bệnh nhân ở tuổi < 40 có thời gian sống sót dài hơn so với bệnh nhân nhiều tuổi hơn. Việc cắt bỏ các khối u tái phát tại chỗ hoặc khối u di căn xa có thể kéo dài thời gian sống sót ở một số bệnh nhân và trong một nghiên cứu tỏ ra hiệu quả hơn dùng chất mitotan.

Đặt câu hỏi tư vấn
Ý kiến của bạn