Thứ sáu, 18/04/2014 00:23
Ung thư não được điều trị như thế nào? Tác dụng phụ của điều trị là gì?

Hiện nay, ung thư não được điều trị phổ biến bằng các liệu pháp như phẫu thuật, hóa trị (dùng thuốc), xạ trị (dùng các tia bức xạ năng lượng cao) hoặc điều trị bằng steroid, hoặc kết hợp nhiều phương pháp điều trị với nhau tùy thuộc và tình trạng từng bệnh nhân. Trong một số trường hợp, khối u ung thư có thể được loại bỏ hoàn toàn, tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác, khối u không thể được gỡ bỏ. Khi đó, các bác sĩ chỉ có thể cố gắng làm chậm sự phát triển của nó để giảm triệu chứng, ảnh hưởng, ngăn chặn sự lây lan và nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài sự sống cho bệnh nhân.

Bệnh nhân có thể được gửi đến các bác sĩ chuyên về các lĩnh vực khác nhau và các bác sĩ này phối hợp với nhau trong điều trị. Đội ngũ các bác sĩ chuyên khoa thường có bác sĩ phẫu thuật thần kinh, bác sĩ ung thư nội khoa, bác sĩ tia xạ ung thư, y tá, chuyên gia dinh duỡng và người làm công tác xã hội. Bệnh nhân có thể làm việc với một bác sĩ vật lý trị liệu, chuyên gia chữa bệnh bằng lao động và bác sĩ chuyên khoa ngôn ngữ. Truớc khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân được dùng steroid là thuốc làm giảm phù nề. Bệnh nhân còn có thể được dùng thuốc chống co giật để phòng chống hoặc kiểm soát các cơn co giật. Nếu xuất hiện não úng thủy thì bệnh nhân sẽ được làm đường nối tắt (tiếng anh gọi là shunt) để dần lưu dịch não tuỷ. Đường nối tắt là một ống dài và mảnh được đặt vào não thất và sau đó đi duới da tới một bộ phận khác của cơ thể, thường là ổ bụng. Nó hoạt động như một ống dẫn: Dịch thừa được dẫn ra khỏi não và được hấp thụ trong vùng bụng. (Trong một số truờng hợp, dịch thừa được dẫn vào tim.)

Phẫu thuật là phương pháp điều trị thường được sử dụng cho hầu hết các trường hợp u não. Để cắt bỏ khối u, bác sĩ phẫu thuật thần kinh phải mở hộp sọ.

Bất cứ khi nào có thể, bác sĩ phẫu thuật cố gắng cắt bỏ toàn bộ khối u. Tuy nhiên, nếu không thể cắt bỏ toàn bộ khối u mà không làm tổn thương tới các mô não quan trọng thì bác sĩ sẽ cố gắng cắt bỏ khối u càng nhiều càng tốt. Cắt bỏ một phần khối u giúp làm giảm triệu chứng do làm giảm sự chèn ép lên não và làm giảm khối luợng khối u được điều trị bằng tia phóng xạ hoặc hóa chất. Một số khối u không thể cắt bỏ. Trong những trường hợp như vậy, bác sĩ chỉ có thể tiến hành sinh thiết. Một mảnh khối u nhỏ được cất ra để bác sĩ giải phẫu bệnh có thể quan sát duới kính hiển vi nhằm xác định loại tế bào trong khối u. Việc này giúp bác sĩ quyết định nên sử dụng phương pháp điều trị nào. Đôi khi, sinh thiết được thực hiện bằng kim. Bác sì còn sử đụng một dụng cụ dạng khung đội đầu đặc hiệt và chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ hạt nhân để xác định vị trí chính xác của khối u. Bác sĩ phẫu thuật mở một lỗ nhỏ ở hộp sọ và sau đó hưởng mũi kim vào khối u (định hưởng không gian).

Dieu tri ung thu nao

Tia xạ trị liệu sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn không cho chúng phát triển. Nó thường được sử dụng để tiêu diệt phần mô ung thư không cắt bỏ được khi phẫu thuật hoặc là để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật. Xạ trị còn được sử dụng khi không thể tiến hành phẫu thuật. Xạ trị có thể thực hiện theo hai cách, chiếu xạ ngoài xuất phát từ một máy lớn. Nói chung, chiếu xạ ngoài được tiến hành 5 ngày mỗi tuần trong vài tuần. Kế hoạch điều trị phụ thuộc vào loại và kích thước của khối u và độ tuổi của bệnh nhân, tổng liều chiếu xạ đạt được sau một thởi gian kéo dài giúp bảo vệ các mô lành trong khu vực có khối u. Phóng xạ có thể xuất phát từ vật liệu phát xạ đặt trực tiếp trong khối u. Tùy thuộc vào chất liệu phát xạ được sử dụng, mảnh cây có thể hại lại trong não trong một thời gian ngắn hoặc vĩnh viễn. Chất phát xạ mất dần hoạt tính phóng xạ mỗi ngày. Bệnh nhân nằm viện trong một thời gian ngắn khi hoạt tính phóng xạ còn mạnh nhất. Chiếu xạ ngoài chỉ cồ thể chiếu trực tiếp vào khối 11 và các mô gần khô'i u, hiếm khi chiếu xạ toàn bộ não bộ. (Đôi khi phóng xạ được chiếu trực tiếp vào tuỷ sống). Khi toàn bộ não được điều trị, bệnh nhân thường được nhận thêm một liều phóng xạ vào khu vực khối u. Luợng phóng xạ tăng cuởng này có thể xuất phát từ chiếu xạ ngoài hoặc chiếu xạ trong. Phẫu thuật bằng tia nhờ định hưởng không gian là một phương pháp điều trị u não. Phương pháp điều trị này được thực hiện một lần; sau khi định vị được chính xác khối u thì tia có năng luợng cao được chiếu thẳng vào khối u từ nhiều góc. Bằng cách này, một liều tia cao có thể đến phá hủy khối u nhưng lại không phá huỷ các mô não khác. Phương pháp này đôi khi được gọi là dao gamma.

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để diệt tế bào ung thư não. Bác sĩ có thể chỉ sử dụng một loại thuốc hoặc phối hợp nhiều loại thuốc, thuốc thường được uống hoặc tiêm vào tĩnh mạch hoặc cơ bắp. Hóa trị liệu trong tuỷ sống là phương pháp điều trị bằng tiêm thuốc vào dịch nào tụy. Hóatrị liệu thường được tiến hành theo đợt: một đợt điều trị tiếp đến là thời gian nghỉ hồi phục và tiếp tục như vậy. Bệnh nhân thường không phải năm viện trong thởi gian điều trị. Bệnh nhân có thể được tiêm truyền thuốc ở phỏng khám ngoại trú của bệnh viện. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại thuốc được sử dụng, đường đưa vào cơ thể và tình trạng sức khỏe chung mà bệnh nhân có thể cần phải nằm viện trong một thởi gian ngắn.

Thử nghiệm lâm sàng Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các phương pháp hiệu quả hơn và có ít tác dụng phụ hơn để điều trị u não. Khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy một phương pháp điều trị mới là có triển vọng, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp mới để điều trị cho bệnh nhân ung thư trong các thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm lâm sàng này được thực hiện để trả lởi các câu hỏi khoa học và để tìm ra phương pháp điều trị mới an toàn và hiệu quả. Bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm lâm sàng đã góp một phần quan trọng cho sự phát triển của y học và là những người đầu tiên được huởng lợi từ những phương pháp điều trị mới.

Nhiều thử nghiệm lâm sàng các phương pháp điều trị u não đang được tiến hành. Bác sĩ đang nghiên cứu các loại và các kế hoạch xạ trị mới, các loại thuốc điều trị ung thư mới, các phác đồ phối hựp thuốc mới và sự kết hợp giữa hóa trị liệu và xạ trị liệu. Các nhà khoa học đang cố gắng để làm tăng tính hiệu quả của xạ trị bằng cách chiếu xạ 2 lần một ngày thay cho một lần. Hơn nữa họ còn đang nghiên cứu các loại thuốc được gọi là chất mẫn cảm phóng xạ. Những loại thuốc này làm cho tế bào ung thư nhạy cảm hơn với phóng xạ. Một phương pháp khác đang được nghiên cứu là phương pháp thấu nhiệt, trong đó khối u được đốt nóng lên để tăng hiệu quả của tia phóng xạ.

Nhiều loại thuốc không thể tiếp cận tế bào nào do hàng rào máu-não, một mạng luới mạch máu và tế bào ngăn máu vào não. Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiểm các loại thuốc mới có thè đi qua hàng rào máu-não. Các nghiên cứu đang được thực hiện sử dụng các kỹ thuật khác nhau để tạm thời phá bỏ hàng rào này để thuốc có thể tiếp cận được khối u. Trong các nghiên cứu khác, các nhà khoa học đang khám phá các cách mới để đưa thuốc vào cụ thể. Thuốc có thể được tiêm vào động mạch dẫn đến não hoặc có thể tiêm trực tiếp vào não tbắt. Bác sĩ cũng đang nghiên cứu hiệu quả của việc đặt những miếng xốp nhỏ chứa thuốc diệt ung thư trực tiếp vào khối u. Miếng xốp dần dần tan đi. Các nhà nghiên cứu cũng đang thử nghiệm việc điều trị bằng thuốc chống ung thư vỏi liều rất cao. Do liều thuốc rất cao có thể gây tổn thương tuỷ xung, bác sĩ kết hợp phương pháp điều trị này với phương pháp ghép tủy xuơng để thay thế cho tuỷ xuơng đã bị huỷ hoại. Liệu pháp sinh học là một phương pháp điều trị u nào mới hiện đang được nghiên cứu. Phương pháp điều trị này nhầm tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể để chống lại bệnh tật.

Bất kì liệu pháp điều trị ung thư não nào đều để lại những tác dụng phụ không mong muốn ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Trong liệu trình điều trị, các bác sĩ luôn cố gắng để giảm thiểu tối đa các tác dụng phụ đó, tuy nhiên mức độ tác động của chúng vẫn khó tránh khỏi. 

Tác dụng phụ của điều trị

Điều trị ung thư thường gây ra các tác dụng phụ. Những tác dụng phụ này xuất hiện bởi vì điều trị cũng tiêu diệt và huỷ hoại các tế bào lành. Tác dụng phụ của điều trị ung thư khác nhau. Chúng phụ thuộc vào phương pháp điều trị và vùng được điều trị. Hơn nữa, mỏi bệnh nhân lại có những đáp ứng khác nhau. Bác sĩ cố gắng lập kế hoạch điều trị để giảm tác dụng phụ xuống mức thấp nhất. Họ còn theo dõi bệnh nhân rất kỹ lưỡng để giúp xử lý tất cả những vấn đề có thể xảy ra. Phẫu thuật mổ não là đại phẫu thuật. Phẫu thuật có thể huỷ hoại mô não lành và có thể gây hiện tượng phù nề.

Mệt mỏi, các rối loạn thăng bằng, thay đổi tính cách, khó nói và khó tư duy có thể là những tác dụng phụ của điều trị. Bệnh nhân cũng có thể bị co giật. Thực tế, một thời gian ngắn sau khi phẫu thuật triệu chứng có thể trầm trọng hơn truớc đó. Hầu hết tác dụng phụ của phẫu thuật có thể giảm nhẹ hoặc biến mất theo thời gian. Hầu hết các tác dụng phụ của xạ trị sớm mất đi sau khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ có thể xảy ra hoặc kéo dài sau khi điều trị kết thúc. Một số bệnh nhân cảm thấy buồn nôn trong vài giờ dồng hồ sau khi điều trị. Bệnh nhân được chiếu xạ thấy mệt mỏi khi tiếp tục điều trị. Nghỉ ngơi là rất quan trọng, nhưng bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gắng hoạt động một cách hợp lý.

Chiếu xạ ở vùng sọ làm cho hầu hết bệnh nhân bị rụng tóc. Khi tóc mọc trở lại thì tóc mới đôi khi mềm hơn và màu có thể hơi khác. Trong một số trường hợp, bệnh nhân bị rụng tóc vĩnh viễn. Phản ứng của da trong vùng điều trị là hiện tuợng thường gặp. Lớp da đầu và tai có thể bị đỏ lên, ngứa hoặc đen đi; những vùng này có thể trông như bị cháy nắng. Nên để vùng chiếu xạ tiếp xúc với không khí càng nhiều càng tốt nhưng nên tránh tia nắng mặt trời. Bệnh nhân không nên đội các loại mũ nón có thể kích thích da đầu. Chăm sóc da tốt là rất quan trọng trong thời gian này. Bác sĩ có thể gợi ý một số loại xà phòng hoặc thuốc mới và bệnh nhân không nên sử dụng bất kỳ loại dầu thơm hoặc kem dưỡng da nào khi không có lời khuyên của bác sĩ. Đôi khi tế bào não đã bị tia phóng xạ tiêu diệt tạo nên một khối trong não. Khối tế bào chết này có thể trông giống như khối u và có thể gây các triệu trứng tuơng tự như đau dầu, mất trí nhớ hoặc co giật. Bác sĩ có thể gợi ý phẫu thuật hoặc dùng steroid để làm giảm triệu chứng.

Trong khoảng thời gian từ 4-8 tuần sau khi chiếu xạ bệnh nhân có thể bị buồn ngủ hoặc mất cảm giác ngon miệng. Những triệu chứng này có thể kéo dài trong vài tuần nhưng chúng sẽ tự biến mất. Tuy nhiên, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ khi có triệu chứng. Những trẻ em được điều trị khối u não bằng tia phóng xạ có thể gặp khó khăn trong quá trình học tập hoặc bị mất một phần thị lực. Nếu tuyến yên bị ảnh huởng trẻ em có thể không lớn hoặc không phát triển bình thường được. Tác dụng phụ của hóa trị liệu phụ thuộc vào loại thuốc điều trị. Nói chung, thuốc điều trị ung thư ảnh huởng tới tế bào phân chia nhanh, như tế bào máu chống lại nhiễm khuẩn, tế bào lót niêm mạc ống tiêu hóa và tế bào ứ nang tóc. Kết quả là khà năng chống nhiễm khuẩn của bệnh nhân giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau miệng. Bệnh nhân cùng có thể có ít năng lượng hơn và có thể bị rụng tóc.

Những tác dụng phụ này thường dần biến mất sau khi kết thúc điều trị. Một số thuốc điều trị ung thư có thể gây vô sinh. Phụ nữ uống một số loại thuốc điều trị ung thư nhất định có thể có triệu chứng mãn kinh (bốc hoà hoặc khô âm đạo; kỳ kinh nguyệt có thể bất thường hoặc dừng lại). Một số loại thuốc được sử dụng điều trị ung thư ở trẻ em có thể ảnh huởng tới khá năng sinh con sau này. Một số loại thuốc điều trị u não có thể gây tổn thương thận. Bệnh nhân thường được truyền một luợng dịch lớn khi uống những loại thuốc này. Bệnh nhân cũng có thể có cảm giác kim chấm ở ngón tay, ù tai hoặc nặng tai. Nhưng vấn đề này có thể không mất đi khi kết thúc điều trị. Điều trị bằng steroid để giảm phù nề ở não có thể làm cho bệnh nhân ăn nhiều và tăng cân. Phù mặt và chân là những hiện tượng thường gặp. Steroid có thể gây cảm giác bồn chồn, tính khí không ổn định, ợ nóng và trứng cá. Tuy nhiên, bệnh nhân không nên ngừng sử dụng steroid hav thay đổi liều luợng mà không tư vấn bác sĩ. Phải dừng uống steroid một cách từ từ để cơ the điềuchỉnh cho phù hợp với sự thay đối.

Mất cảm giác ngon miệng có thể là vấn đề đối với bệnh nhằn trong quá trình điều trị. Bệnh nhân có thể không càm thấy đói khi một mỏi hoặc khó chịu. Một số tác dụng phụ thường gặp khi điều trị ung thư như buồn nôn, nôn có thể làm cho việc ăn uống khó khăn hơn. Ăn tốt có nghĩa là lấy đủ luợng calo và protein để không bị giảm cân, lấy lại sức lực và tái tạo lại các mô lành. Nhiều bệnh nhân thấy ăn nhiều bữa ăn nhỏ và bữa ăn nhẹ trong ngày có hiệu quả hơn là ăn ba bữa chính. Bệnh nhân được điều trị u não có thể có hiện tuợng đông máu và viêm tĩnh mạch, thường xảy ra nhất ở chân. Hiện tuợng này được gọi là viêm tác tĩnh mạch. Những bệnh nhân phát hiện bị phù ở chân, đau chân hoặc tấy đỏ ở chân nên thông báo cho bác sĩ ngay.

Theo dõi định kỳ sau khi điều trị là rất quan trọng đối với bệnh nhân u não. Bác sĩ sẽ kiểm tra kỹ lưỡng để chắc chắn rằng khối u chưa xuất hiện trở lại. Thăm khám định kỳ thường bao gồm khám sức khỏe toàn thân và khám thần kinh. Thỉnh thoảng bệnh nhân phải chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng huởng từ hạt nhân.

Bệnh nhân được chiếu xạ vào những vùng rộng ở não hoặc được điều trị bằng một số loại thuốc chống ung thư nhất định có nguy cơ bị bệnh ung thư tế bào máu hoặc khối u thứ hai cao hơn. Hơn nữa xạ trị ảnh huởng tới nhãn cầu có thể dẫn đến bệnh đục thể thủy tinh. Bệnh nhân nên làm theo lời khuyên của bác sĩ về chăm sóc sức khỏe và khám kiểm tra. Nếu có vấn đề sức khỏe bất thường xảy ra thì nên thông báo cho bác sĩ ngay.

Đặt câu hỏi tư vấn
Ý kiến của bạn