Dấu hiệu Ung thư não và những nguy cơ


Ung thư não 

 

              Ung thư não là gì?
              Các yếu tố nguy cơ.
              Triệu chứng .
              Chẩn đoán Ung thư.
              Điều trị như thế nào?
              Khám và phát hiện sớm.
 

                          Ung thư não căn bệnh nguy hiểm .

 

1.     Ung thư não là gì?


     Ung thư não là khái niệm chung để chỉ các khối u ác tính ở não chứa các tế bào ung thư. Chúng ảnh huởng đến các chức năng sống và gây nguy hiếm cho tính mạng. Các khối u này thường lớn lên nhanh và xâm lấn vào mô lân cận. Cũng giống như một loại cây, các khối u này có thể “mọc rễ” vào mô lành của não. Nếu khối u ác tính ở não là rán và không có rễ, đó là khối u có vỏ bọc. Khi có một khối u ở vùng điều hành chức năng sống của não và ánh huởng đến các chức năng này thì chúng cũng có thể được coi là khối u ác tính (mặc dù chúng không chứa tế bào ung thư.


2.    Các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân của ung thư não là gì?


     Nguyên nhân gây ra u não chua được xác định. Các nhà nghiên cứu đang cố gắng giải quyết vấn để này. Họ càng tìm hiểu được nhiều về các nguyên nhân gây ra u não thì cơ bội tìm ra các cách phòng chống càng lớn. Bác sĩ không thể giải thích tại sao nguởi này bị u não những nguởi khác lại không bị, những các nhà nghiên cứu biết rằng không ai bị lây u não từ một nguởi khác. U não không phải là bệnh truyền nhiễm. Mặc dù các khối u não có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, các nghiên cứu cho thấy chúng phổ biến nhất ở hai nhóm tuổi. Nhóm thứ nhất là trẻ em từ 3 đến 12 tuổi; nhóm thứ hai là ở nguởi lớn từ 40 đốn 70 tuổi.


     Bảng cách nghiên cứu một số luợng lớn bệnh nhân ung thư, các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số yếu tố nguy cơ nhất định có thể làm tăng nguy cơ phát triển u não. Nguởi có những yếu tố nguy cơ này có tỷ lệ bị u não cao hơn mức trung bình. Ví dụ, các nghiên cứu cho thấy một số loại u não thường xuất hiện hơn ở những công nhân trong một số ngành công nghiệp nhất định như lọc dầu, sản xuất cao su và sản xuất được phẩm. Các nghiên cứu khác cho thấy, các nhà khoa học và những nguởi làm nghề uớp xác có tỷ lộ u não cao hơn. Các nhà nghiên cứu cũng đang xem xét việc tiếp xúc vởi virút có thể là một nguyên nhân gây u não hay không. Vì đôi khi một số thành viên trong cùng một gia đình có thể bị u não, các nhà nghiên cứu cũng đang nghiên cứu tiền sử gia đình để xem yếu tố di truyền có phải là nguyên nhân hay không. Hiện nay các nhà khoa học không tin rằng chấn thương ở đâu có thể dẫn đến u não. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh nhân u não không có yếu tố nguy cơ rõ ràng. Bệnh này có thể là kết quả của nhiều yếu tố nguy cơ cùng tác động.


3.  Ung thư não được phát hiện như thể nào? Triệu chứng của ung thư não là gì?


     Triệu chứng của u não phụ thưộc chủ yếu vào kích thước và vị trí của khối u trong não. Triệu chứng xuất hiện do tổn thương phân mô não điều khiển các chức năng sống quan trọng hoặc do chèn ép não vì khối u phát triển trong khoảng trống có giời hạn của bộp sọ. Các triệu chứng có thể do tình trạng phù tổ chức xung quanh khối u hoặc do hiện tuợng não úng thưỷ tức là khối u cản trở dòng dịch não tủy và gây ứ dịch trong não. Nếu khôi u não phát triền chậm, triệu chứng của chúng có thể xuất hiện một cách từ từ đến mức chúng bị bỏ qua trong một thởi gian dài.


Triệu chứng thường gặp nhất của u não bao gồm:
     -    Đau đầu, đặc biệt vào buổi sáng và đỡ đần trong ngày
     -    Co giật
     -    Buồn nôn hoặc nôn
     -    Yếu hoặc mất cám giác ở tay hoặc chân
     -    Mất thăng bằng khi đi lại
     -    Cử động nhãn cầu bắt thường hoặc thay đổi thị giác
     -    Buồn ngủ
     -    Thay đối tính cách hoặc trí nhở
     -    Thay đổi ngôn ngữ
Những triệu chứng này có thể do u não gây ra nhưng cũng có thể do các bệnh khác gây ra. Chỉ có bác sĩ mởi có thể đưa ra chẩn đoán.

     Khối u não nguyên phát
     Khối u bắt đầu ở mô não được gọi là khối u não nguyên phát. Nó khác với khối u thứ phát là khối u xuất hiện khi ung thư lan vào não. Khối u não nguyên phát được phân loại theo loại mô nơi chúng xuất hiện. Loại u não thường gặp nhất là u thần kinh đệm xuất phát từ mô đệm. Có nhiều loại u mô đệm:
     U tế bào hình sao xuất phát từ những tế bào nhò hình sao (tiếng Anh gọi là astrocyt). Các u tế bào hình sao có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong não bộ hoặc tủy sống. Ở nguởi lớn u tế bào hình sao thường xuất hiện ở đại não. Ở trẻ em, chúng xuất hiện ở thân não, đại não và tiểu não. u tế bào hình sao cấp độ III có thể được gọi là u tế bào hình sao không biệt hóa. U tế bào hình sao cấp độ IV thường được gọi là u nguyên bào đệm nhiều dạng.


     U thần kinh đệm ở thân não xuất hiện ở phần thân não. Thân não kiểm soát nhiều chức năng sống quan trọng. Các khối u ở vùng này nói chung không thể cắt bỏ được. Hấu hết u thần kinh đệm thân não là u tế bào hình sao cấp độ cao.
u tế bào màng não thất thường phát triển trong lớp niêm mạc lót não thất, chúng còn có thể xuất hiện ở tuỷ sống. Mặc dù chúng có thể phát triển ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhấtt ở trẻ cm và thanh niên.


     U tế bào thần kinh đệm có đuôi gai xuất hiện từ những tế bào sản xuất myelin - lớp vỏ bọc mã bảo vệ dây thần kinh. Những khối u này thường xuất hiện ở đại não. Chúng phát triển chậm và thường không lan vào các mô não lân cận. u thần kinh đệm có đuôi gai thường hiếm gặp. Chúng thường gặp nhất ở lứa tuổi trung niên nhưng đã phát hiện ra các trường hợp mắc loại ung thư này ở mọi lứa tuổi. Còn có các loại u não khác không xuất phát từ mô đệm. Một số loại ung thư thường gặp nhất được trình bày duới đây:
     U nguyên tủy bào truớc đây được cho là phát triển từ tế bào đệm. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra những khối u này phát triển từ những tế bào thần kinh nguyên thưỷ, những tế bào này thông thường không còn lại trong cơ thể sau khi đứa trẻ ra đởi. Vì lý do này, u nguyên tế bào đôi khi còn được gọi là u tế bào thần kinh lá phổi ngoài nguyên thưý (PNET). Hầu hết u nguyên tuỷ bào xuất hiện ở tiếu não; tuy nhiên chúng cũng có thể xuất hiện ở các vùng não khác. Những khối u này thường xuất hiện ỡ trẻ em và thường gặp nhiều ở trẻ trai hơn trẻ gái.


     U màng não phát triển ở màng nào. Chúng thường là những khối u lành tính. Bởi vì những khối u này phát triển chậm, nào có thể điều chỉnh theo chúng; u màng não thường phát triển khá lớn truớc khi chúng gây ra triệu trứng, chúng thường xuất hiện ở những phụ nữ trong độ tuổi 30-50.


     U tế bào Schwann là những khôi u lành tính xuất phát từ những tế bào sợi thần kinh Schwann là tế bào sản xuất myelin bảo vệ dây thần kinh thính giác,u dây thần kinh thính giác là một loại u tế bào Schwann. Chúng chủ yếu xuất hiện ở nguởi lớn. Loại ung thư này gặp ở nữ giới nhiều gấp đôi nam giới.


     U sọ hầu phát triển ở vùng tuyến yên gán vùng duới đồi thị. Chúng thường là lành tính; tuy nhiên đôi khi chúng được coi là ác tính bởi vì chúng có thể chèn ép lên hoặc huy hoại vùng duới đồi thị gây ánh huởng tới các chức năng sống quan trọng của cơ thể. Những khối u này thường gặp nhất ở trẻ em và thanh niên.


     U tế bào mầm xuất phát từ những tế hào mầm (tế bào sĩnh dục) nguyên thưỷ.Loại ung thư tế bào mầm trong não thường gặp nhất là u tế bào mầm.


     U vùng tuyến tùng xuất hiện ở trong hoặc xung quanh tuyến tùng là một bộ phận nhỏ gần trung tâm não. Khối u có thể là u tế bào tuyến tùng phát triển chậm hoặc u nguyên bào tuyến tùng phát triển nhanh. Khu vực tuyến tùng là vị trí rất khó tiếp cận và những khối u này thường không thể cắt bỏ.


     Khối u não thứ phát
     Di căn là quá trình lan của ung thư. Ung thư xuất phát từ một bộ phận khác của cơ thề có thể lan vào não và hình thành khối u thứ phát. Những khối u này không giống như khối u não nguyên phát. Ung thư lan vào não có cùng tên với ung thư gốc (nguyên phát). Ví dụ, nếu ung thư phổi lan vào não thì u ở não là ung thư phổi di căn bởi tế bào trong khối u thứ phát là tế bào phổi bắt thường chứ không phài tế bào não bắt thường. Điều trị ung thư thứ phát tuỳ thưộc vào vị trí ung thư nguyên phát và phạm vi lan cũng như các yếu tố khác bao gồm độ tuổi, tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân và đáp ứng với điều trị trước đó.


4. Ung thư não được chẩn đoán như thế nào?


     Để tìm ra nguyên nhân của các triệu chứng, bác sĩ có thể hỏi bệnh nhân về tiền sử cá nhân và gia đình, tiến hành thăm khám toàn bộ. Bên cạnh việc kiểm tra những dấu hiệu sức khỏe chung, bác sĩ còn tiến hành khám thần kinh. Quá trình này bao gồm việc kiểm tra sự tỉnh táo, sức mạnh của cơ bắp, khả năng giữ thăng bằng, các phản xạ và đáp ứng đau. Bác sĩ còn tiến hành khám mắt để tìm dấu hiệu phù nề do khối u chèn lên dây thần kinh nối mắt với não.


     Tuỳ thưộc vào kết quả khám lâm sàng và thần kinh, bác sĩ có thể yêu cầu tiến hành một hoặc cả hai thăm dò duới đây:
Chụp cắt lớp vi tính là các phim chụp chỉ tiết não bộ. Phim chụp này được tạo ra bằng một máy vi tính nối với một máy chụp X quang. Trong một số trường hợp cần tiêm thuốc vào tĩnh mạch truớc khi chụp để làm hiển thị sự khác biệt của các mô trong não.


     Chụp cộng huởng từ hạt nhân tạo ra phim chụp não bộ bằng cách nổi một nam chấm mạnh với một máy vi tính. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân đặc biệt hữu ích khi chân đoán u nào bởi vì nó có thể nhìn xuyên qua xuơng sọ nào để quan sát các mô bên duới. Một loại thuốc đặc hiệt có thể được sử dụng để làm tăng khả năng phát hiện ra khối u nào. Bác sĩ có thể yêu cầu tiến hành các xét nghiệm khác như:
     Chụp X quang hộp sọ có thể cho thấy những thay đổi trong xuơng sọ do khôi u gây ra. Nó cho thấy các lắng đọng canxi có mặt trong một số loại u não.
     Chụp xạ hình não hiển thị hình ảnh những khu vực phát triển không bình thường ở não và ghi lại trên một loại phim đặc biệt. Một luợng nhỏ chất phóng xạ được tiêm vào tĩnh mạch. Chất này được khối u hấp thụ và mức độ hấp thụ được hiển thị trên phim. Chất phóng xạ đi ra khỏi cơ thể trong vòng sáu giờ và không nguy hiểm.
Chụp mạch hoặc chụp độnq mạch, là chụp bằng tia X sau khi tiêm vào động mạch (thường là động mạch đùi) một loại thuốc đặc biệt. Thuốc đi đến mạch máu nào và có thể quan sát trên phim X quang. Có thể thấy được hình ảnh khối u và các mạch máu đi đến khối u.
     Chụp X quang tủy sống. Một loại thuốc đặc biệt được tiêm vào dịch não tuỷ và bệnh nhân được đặt nghiêng để thuốc hòa vào dịch não tuỷ. Có thể thực hiện thăm dò này khi bác sĩ nghi ngờ có khối u ở tuỷ sống.


5. Ung thư não được điều trị như thế nào? Tác dụng phụ của điều trị là gì?


     Các phương pháp điều trị
     Các khối u não được điều trị bằng phẫu thuật., xạ trị và hóa chất, có thể sử dụng nhiều biện pháp. Bệnh nhân có thể được gửi đến các bác sĩ chuyên về các lĩnh vực khác nhau và các bác sĩ này phối hợp với nhau trong điều trị. Đội ngũ các bác sĩ chuyên khoa thường có bác sĩ phẫu thuật thần kinh, bác sĩ ung thư nội khoa, bác sĩ tia xạ ung thư, y tá, chuyên gia dinh duỡng và người làm công tác xã hội. Bệnh nhân có thể làm việc với một bác sĩ vật lý trị liệu, chuyên gia chữa bệnh bằng lao động và bác sĩ chuyên khoa ngôn ngữ. Truớc khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân được dùng steroid là thuốc làm giảm phù nề. Bệnh nhân còn có thể được dùng thuốc chống co giật để phòng chống hoặc kiểm soát các cơn co giật. Nếu xuất hiện não úng thủy thì bệnh nhân sẽ được làm đường nối tắt (tiếng anh gọi là shunt) để dần lưu dịch não tuỷ. Đường nối tắt là một ống dài và mảnh được đặt vào não thất và sau đó đi duới da tới một bộ phận khác của cơ thể, thường là ổ bụng. Nó hoạt động như một ống dẫn: Dịch thừa được dẫn ra khỏi não và được hấp thụ trong vùng bụng. (Trong một số truờng hợp, dịch thừa được dẫn vào tim.)


     Phẫu thuật là phương pháp điều trị thường được sử dụng cho hầu hết các trường hợp u não. Để cắt bỏ khối u, bác sĩ phẫu thuật thần kinh phải mở hộp sọ.


     Bất cứ khi nào có thể, bác sĩ phẫu thuật cố gắng cắt bỏ toàn bộ khối u. Tuy nhiên, nếu không thể cắt bỏ toàn bộ khối u mà không làm tổn thương tới các mô não quan trọng thì bác sĩ sẽ cố gắng cắt bỏ khối u càng nhiều càng tốt. Cắt bỏ một phần khối u giúp làm giảm triệu chứng do làm giảm sự chèn ép lên não và làm giảm khối luợng khối u được điều trị bằng tia phóng xạ hoặc hóa chất. Một số khối u không thể cắt bỏ. Trong những trường hợp như vậy, bác sĩ chỉ có thể tiến hành sinh thiết. Một mảnh khối u nhỏ được cất ra để bác sĩ giải phẫu bệnh có thể quan sát duới kính hiển vi nhằm xác định loại tế bào trong khối u. Việc này giúp bác sĩ quyết định nên sử dụng phương pháp điều trị nào. Đôi khi, sinh thiết được thực hiện bằng kim. Bác sì còn sử đụng một dụng cụ dạng khung đội đầu đặc hiệt và chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ hạt nhân để xác định vị trí chính xác của khối u. Bác sĩ phẫu thuật mở một lỗ nhỏ ở hộp sọ và sau đó hưởng mũi kim vào khối u (định hưởng không gian).
     Tia xạ trị liệu sử dụng các tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn không cho chúng phát triển. Nó thường được sử dụng để tiêu diệt phần mô ung thư không cắt bỏ được khi phẫu thuật hoặc là để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau khi phẫu thuật. Xạ trị còn được sử dụng khi không thể tiến hành phẫu thuật. Xạ trị có thể thực hiện theo hai cách, chiếu xạ ngoài xuất phát từ một máy lớn. Nói chung, chiếu xạ ngoài được tiến hành 5 ngày mỗi tuần trong vài tuần. Kế hoạch điều trị phụ thuộc vào loại và kích thước của khối u và độ tuổi của bệnh nhân, tổng liều chiếu xạ đạt được sau một thởi gian kéo dài giúp bảo vệ các mô lành trong khu vực có khối u. Phóng xạ có thể xuất phát từ vật liệu phát xạ đặt trực tiếp trong khối u. Tùy thuộc vào chất liệu phát xạ được sử dụng, mảnh cây có thể hại lại trong não trong một thời gian ngắn hoặc vĩnh viễn. Chất phát xạ mất dần hoạt tính phóng xạ mỗi ngày. Bệnh nhân nằm viện trong một thời gian ngắn khi hoạt tính phóng xạ còn mạnh nhất. Chiếu xạ ngoài chỉ cồ thể chiếu trực tiếp vào khối 11 và các mô gần khô'i u, hiếm khi chiếu xạ toàn bộ não bộ. (Đôi khi phóng xạ được chiếu trực tiếp vào tuỷ sống). Khi toàn bộ não được điều trị, bệnh nhân thường được nhận thêm một liều phóng xạ vào khu vực khối u. Luợng phóng xạ tăng cuởng này có thể xuất phát từ chiếu xạ ngoài hoặc chiếu xạ trong. Phẫu thuật bằng tia nhờ định hưởng không gian là một phương pháp điều trị u não. Phương pháp điều trị này được thực hiện một lần; sau khi định vị được chính xác khối u thì tia có năng luợng cao được chiếu thẳng vào khối u từ nhiều góc. Bằng cách này, một liều tia cao có thể đến phá hủy khối u nhưng lại không phá huỷ các mô não khác. Phương pháp này đôi khi được gọi là dao gamma.


     Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để diệt tế bào ung thư não. Bác sĩ có thể chỉ sử dụng một loại thuốc hoặc phối hợp nhiều loại thuốc, thuốc thường được uống hoặc tiêm vào tĩnh mạch hoặc cơ bắp. Hóa trị liệu trong tuỷ sống là phương pháp điều trị bằng tiêm thuốc vào dịch nào tụy. Hóa trị liệu thường được tiến hành theo đợt: một đợt điều trị tiếp đến là thời gian nghỉ hồi phục và tiếp tục như vậy. Bệnh nhân thường không phải năm viện trong thởi gian điều trị. Bệnh nhân có thể được tiêm truyền thuốc ở phỏng khám ngoại trú của bệnh viện. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào loại thuốc được sử dụng, đường đưa vào cơ thể và tình trạng sức khỏe  chung mà bệnh nhân có thể cần phải nằm viện trong một thởi gian ngắn.
     Thử nghiệm lâm sàng Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các phương pháp hiệu quả hơn và có ít tác dụng phụ hơn để điều trị u não. Khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy một phương pháp điều trị mới là có triển vọng, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp mới để điều trị cho bệnh nhân ung thư trong các thử nghiệm lâm sàng. Những thử nghiệm lâm sàng này được thực hiện để trả lởi các câu hỏi khoa học và để tìm ra phương pháp điều trị mới an toàn và hiệu quả. Bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm lâm sàng đã góp một phần quan trọng cho sự phát triển của y học và là những người đầu tiên được huởng lợi từ những phương pháp điều trị mới.


     Nhiều thử nghiệm lâm sàng các phương pháp điều trị u não đang được tiến hành. Bác sĩ đang nghiên cứu các loại và các kế hoạch xạ trị mới, các loại thuốc điều trị ung thư mới, các phác đồ phối hựp thuốc mới và sự kết hợp giữa hóa trị liệu và xạ trị liệu. Các nhà khoa học đang cố gắng để làm tăng tính hiệu quả của xạ trị bằng cách chiếu xạ 2 lần một ngày thay cho một lần. Hơn nữa họ còn đang nghiên cứu các loại thuốc được gọi là chất mẫn cảm phóng xạ. Những loại thuốc này làm cho tế bào ung thư nhạy cảm hơn với phóng xạ. Một phương pháp khác đang được nghiên cứu là phương pháp thấu nhiệt, trong đó khối u được đốt nóng lên để tăng hiệu quả của tia phóng xạ.


     Nhiều loại thuốc không thể tiếp cận tế bào nào do hàng rào máu-não, một mạng luới mạch máu và tế bào ngăn máu vào não. Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiểm các loại thuốc mới có thè đi qua hàng rào máu-não. Các nghiên cứu đang được thực hiện sử dụng các kỹ thuật khác nhau để tạm thời phá bỏ hàng rào này để thuốc có thể tiếp cận được khối u. Trong các nghiên cứu khác, các nhà khoa học đang khám phá các cách mới để đưa thuốc vào cụ thể. Thuốc có thể được tiêm vào động mạch dẫn đến não hoặc có thể tiêm trực tiếp vào não tbắt. Bác sĩ cũng đang nghiên cứu hiệu quả của việc
đặt những miếng xốp nhỏ chứa thuốc diệt ung thư trực tiếp vào khối u. Miếng xốp dần dần tan đi. Các nhà nghiên cứu cũng đang thử nghiệm việc điều trị bằng thuốc chống ung thư vỏi liều rất cao. Do liều thuốc rất cao có thể gây tổn thương tuỷ xung, bác sĩ kết hợp phương pháp điều trị này với phương pháp ghép tủy xuơng để thay thế cho tuỷ xuơng đã bị huỷ hoại. Liệu pháp sinh học là một phương pháp điều trị u nào mới hiện đang được nghiên cứu. Phương pháp điều trị này nhầm tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể để chống lại bệnh tật.


     Tác dụng phụ của điều trị


     Điều trị ung thư thường gây ra các tác dụng phụ. Những tác dụng phụ này xuất hiện bởi vì điều trị cũng tiêu diệt và huỷ hoại các tế bào lành. Tác dụng  phụ của điều trị ung thư khác nhau. Chúng phụ thuộc vào phương pháp điều trị và vùng được điều trị. Hơn nữa, mỏi bệnh nhân lại có những đáp ứng khác nhau. Bác sĩ cố gắng lập kế hoạch điều trị để giảm tác dụng phụ xuống mức thấp nhất. Họ còn theo dõi bệnh nhân rất kỹ lưỡng để giúp xử lý tất cả những vấn đề có thể xảy ra. Phẫu thuật mổ não là đại phẫu thuật. Phẫu thuật có thể huỷ hoại mô não lành và có thể gây hiện tượng phù nề. Mệt mỏi, các rối loạn thăng bằng, thay đổi tính cách, khó nói và khó tư duy có thể là những tác dụng phụ của điều trị. Bệnh nhân cũng có thể bị co giật. Thực tế, một thời gian ngắn sau khi phẫu thuật triệu chứng có thể trầm trọng hơn truớc đó. Hầu hết tác dụng phụ của phẫu thuật có thể giảm nhẹ hoặc biến mất theo thời gian. Hầu hết các tác dụng phụ của xạ trị sớm mất đi sau khi kết thúc điều trị. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ có thể xảy ra hoặc kéo dài sau khi điều trị kết thúc. Một số bệnh nhân cảm thấy buồn nôn trong vài giờ dồng hồ sau khi điều trị. Bệnh nhân được chiếu xạ thấy mệt mỏi khi tiếp tục điều trị. Nghỉ ngơi là rất quan trọng, nhưng bác sĩ thường khuyên bệnh nhân cố gắng hoạt động một cách hợp lý. Chiếu xạ ở vùng sọ làm cho hầu hết bệnh nhân bị rụng tóc. Khi tóc mọc trở lại thì tóc mới đôi khi mềm hơn và màu có thể hơi khác. Trong một số trường hợp, bệnh nhân bị rụng tóc vĩnh viễn. Phản ứng của da trong vùng điều trị là hiện tuợng thường gặp. Lớp da đầu và tai có thể bị đỏ lên, ngứa hoặc đen đi; những vùng này có thể trông như bị cháy nắng. Nên để vùng chiếu xạ tiếp xúc với không khí càng nhiều càng tốt nhưng nên tránh tia nắng mặt trời. Bệnh nhân không nên đội các loại mũ nón có thể kích thích da đầu. Chăm sóc da tốt là rất quan trọng trong thời gian này. Bác sĩ có thể gợi ý một số loại xà phòng hoặc thuốc mới và bệnh nhân không nên sử dụng bất kỳ loại dầu thơm hoặc kem dưỡng da nào khi không có lời khuyên của bác sĩ. Đôi khi tế bào não đã bị tia phóng xạ tiêu diệt tạo nên một khối trong não. Khối tế bào chết này có thể trông giống như khối u và có thể gây các triệu trứng tuơng tự như đau dầu, mất trí nhớ hoặc co giật. Bác sĩ có thể gợi ý phẫu thuật hoặc dùng steroid để làm giảm triệu chứng. Trong khoảng thời gian từ 4-8 tuần sau khi chiếu xạ bệnh nhân có thể bị buồn ngủ hoặc mất cảm giác ngon miệng. Những triệu chứng này có thể kéo dài trong vài tuần nhưng chúng sẽ tự biến mất. Tuy nhiên, bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ khi có triệu chứng. Những trẻ em được điều trị khối u não bằng tia phóng xạ có thể gặp khó khăn trong quá trình học tập hoặc bị mất một phần thị lực. Nếu tuyến yên bị ảnh huởng trẻ em có thể không lớn hoặc không phát triển bình thường được. Tác dụng phụ của hóa trị liệu phụ thuộc vào loại thuốc điều trị. Nói chung, thuốc điều trị ung thư ảnh huởng tới tế bào phân chia nhanh, như  tế bào máu chống lại nhiễm khuẩn, tế bào lót niêm mạc ống tiêu hóa và tế bào ứ nang tóc. Kết quả là khà năng chống nhiễm khuẩn của bệnh nhân giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau giảm, mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn hoặc đau miệng. Bệnh nhân cùng có thể có ít năng lượng hơn và có thể bị rụng tóc. Những tác dụng phụ này thường dần biến mất sau khi kết thúc điều trị. Một số thuốc điều trị ung thư có thể gây vô sinh. Phụ nữ uống một số loại thuốc điều trị ung thư nhất định có thể có triệu chứng mãn kinh (bốc hoà hoặc khô âm đạo; kỳ kinh nguyệt có thể bất thường hoặc dừng lại). Một số loại thuốc được sử dụng điều trị ung thư ở trẻ em có thể ảnh huởng tới khá năng sinh con sau này. Một số loại thuốc điều trị u não có thể gây tổn thương  thận. Bệnh nhân thường được truyền một luợng dịch lớn khi uống những loại thuốc này. Bệnh nhân cũng có thể có cảm giác kim chấm ở ngón tay, ù tai hoặc nặng tai. Nhưng vấn đề này có thể không mất đi khi kết thúc điều trị. Điều trị bằng steroid để giảm phù nề ở não có thể làm cho bệnh nhân ăn nhiều và tăng cân. Phù mặt và chân là những hiện tượng thường gặp. Steroid có thể gây cảm giác bồn chồn, tính khí không ổn định, ợ nóng và trứng cá. Tuy nhiên, bệnh nhân không nên ngừng sử dụng steroid hav thay đổi liều luợng mà không tư vấn bác sĩ. Phải dừng uống steroid một cách từ từ để cơ the điềuchỉnh cho phù hợp với sự thay đối.


     Mất cảm giác ngon miệng có thể là vấn đề đối với bệnh nhằn trong quá trình điều trị. Bệnh nhân có thể không càm thấy đói khi một mỏi hoặc khó chịu. Một số tác dụng phụ thường gặp khi điều trị ung thư như buồn nôn, nôn có thể làm cho việc ăn uống khó khăn hơn. Ăn tốt có nghĩa là lấy đủ luợng calo và protein để không bị giảm cân, lấy lại sức lực và tái tạo lại các mô lành. Nhiều bệnh nhân thấy ăn nhiều bữa ăn nhỏ và bữa ăn nhẹ trong ngày có hiệu quả hơn là ăn ba bữa chính. Bệnh nhân được điều trị u não có thể có hiện tuợng đông máu và viêm tĩnh mạch, thường xảy ra nhất ở chân. Hiện tuợng này được gọi là viêm tác tĩnh mạch. Những bệnh nhân phát hiện bị phù ở chân, đau chân hoặc tấy đỏ ở chân nên thông báo cho bác sĩ ngay.


6. Khám định kỳ theo dõi gồm những gì?


     Theo dõi định kỳ sau khi điều trị là rất quan trọng đối với bệnh nhân u não. Bác sĩ sẽ kiểm tra kỹ lưỡng để chắc chắn rằng khối u chưa xuất hiện trở lại. Thăm khám định kỳ thường bao gồm khám sức khỏe toàn thân và khám thần kinh. Thỉnh thoảng bệnh nhân phải chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng huởng từ hạt nhân.


     Bệnh nhân được chiếu xạ vào những vùng rộng ở não hoặc được điều trị bằng một số loại thuốc chống ung thư nhất định có nguy cơ bị bệnh ung thư tế bào máu hoặc khối u thứ hai cao hơn. Hơn nữa xạ trị ảnh huởng tới nhãn cầu có thể dẫn đến bệnh đục thể thủy tinh. Bệnh nhân nên làm theo lời khuyên của bác sĩ về chăm sóc sức khỏe và khám kiểm tra. Nếu có vấn đề sức khỏe bất thường xảy ra thì nên thông báo cho bác sĩ ngay.

Các bài khác